Showing posts with label Đỗ Thái Nhiên. Show all posts
Showing posts with label Đỗ Thái Nhiên. Show all posts

Thursday, January 3, 2013


30 năm sau: kẻ “chiến thắng” xin qui hàng.

                                      ÐỖ THÁI NHIÊN
                                            
           Có thể nói được rằng: mỗi người có một kiểu nhìn riêng đối với Dịch Học. Mỗi người có ngôn ngữ, cú pháp riêng để diễn tả Dịch Học. Thế nhưng, mọi người đều dễ dàng đồng ý với nhau: cuối con đường đi tìm nội dung cốt lõi của Dịch Học, con người sẽ bắt gặp hai chữ:  “PHẢN PHỤC”. Phản phục là qui luật xác định: mọi hiện tượng trên đại vũ trụ đều ẩn tàng trong nó một mầm mống chống lại chính hiện tượng đó.
Trong thái dương có thiếu âm và trong thái âm có thiếu dương. Thiếu âm, thiếu dương là các mầm mống phản phục của thái dương và thái âm. Từ rất xa xưa, ca dao Việt Nam đa khám phá ra hiện tượng phản phục:

                                      “Cười người chớ có cười lâu,
Cười người hôm trước, hôm sau người cười”
(Ca dao Việt Nam)

“Người cười” là mầm phản phục của hịên tượng “cười người”.  Câu hỏi đặt ra:Làm thế nào để con người có thể xác định được mối quan hệ tất yếu giữa lực phản phục và những chuyển mình của lịch sử? Chúng ta hãy đi tìm giải đáp cho câu hỏi vừa nêu bằng cách khảo sát bản chất chính trị của biến cố 30/4/1975 và các mầm mống phản phục của nó.
Như chúng ta đã biết, biến cố 30/4/1975 hiển nhiên là một hồ sơ tràn ngập tội ác. Nổi bật là những tội ác  sau đây:

          -Lợi dụng tình hình chính trị tại Hoa Kỳ gặp khó khăn, CSViệt Nam phản bội hiệp ước Ba Lê 1973, mang quân xâm chiếm toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa.
-CSViệt Nam trả thù quân, dân VNCH bằng cách tống giam hàng trăm ngàn người trong những trại tù khổ sai dưới tên gọi “học tập cải tạo”. Trong toàn bộ lịch sử của loài người, đây là một cuộc tắm máu độc ác nhất, âm thầm nhất, nham hiểm nhất .
-CSViệt Nam cướp đoạt tài sản, nhà cửa của người dân đàng sau tấm bình phong “đánh tư sản mại bản”.
-CSViệt Nam đẩy hàng trăm ngàn người dân Việt Nam xuống đáy biển qua chương trình vượt biên “bán chính thức”. Những nạn nhân của chương trình này phải nộp vàng cho CSViệt Nam để được CS tống xuất ra biển trên những chiếc ghe thiếu hẳn những phương tiện an toàn tối thiểu.
- Hàng triệu người Việt Nam khác do không chịu nổi chế độ hà khắc của CS, đã âm thầm băng rừng, vượt biển đi tìm tự do. Khoảng 40% số người này đã phải trả giá cho hai chữ “tự do” bằng chính sinh mệnh của họ.
-CSViệt Nam xem người dân như những kẻ nô lệ của đảng CS.  Ðảng đã và đang rộn rịp bán nô lệ cho bất kỳ quốc gia nào cần nô lệ. Nô lệ của CSVN được gọi dưới mỹ danh “những người tham gia chương trình xuất khẩu lao động” hoặc “những người thành hôn với người nước ngoài”, đặc biệt là “nước Ðài Loan”.
-Kinh tế thị trường với tất cả kỹ thuật kinh tế và pháp lý tinh vi của nó chắc chắn sẽ đẩy xí nghiệp quốc doanh và đảng CSVN rơi vào tử huyệt. Vì vậy CSVN chỉ giả vờ khoác áo kinh tế thị trường  đủ để lấy lòng giới kinh tế tài chính quốc tế. Trong thực tế, tại Việt Nam, ngày nay đảng CS và tay chân vẫn nắm chặt mọi ưu quyền kinh tế, vẫn cứng rắn bảo vệ guồng máy cầm quyền cực kỳ tham ô, cực kỳ phản văn hóa. Ðây là lý do giải thích tại sao Việt Nam bị các quốc gia lân bang bỏ rơi rất xa trên con đường tiến bộ. Ðây còn là tội ác kinh tế, văn hóa mà CSViệt Nam đã gây ra trên đất nước Việt Nam.
Tất cả những tội ác kể trên đã tạo ra trong tâm khảm của mỗi người dân Việt Nam niềm phẫn uất và ý chí phản kháng hướng về đảng CSViệt Nam. Ðó là cội nguồn của lực phản phục tiềm ẩn bên trong mối quan hệ giữa  người dân và nhà cầm quyền CSViệt Nam.  Chừng nào lực phản phục kia bừng nở thành HOA TỰ DO DÂN CHỦ? Câu trả lời xin được giải bày thông qua ba tình huống sau đây
 
          I.- BANG GIAO VIỆT- HOA.

                                    
      (Nông đức Mạnh Tổng bí thư đảng CSVN hèn hạ cúi đầu)

Việt ở đây là Việt Cộng. Hoa ở đây là Trung Cộng. Ðối với Việt Cộng, quyền thống trị của đảng CSVN là mục tiêu tối thượng. Nhóm chữ “quyền lợi dân tộc” chỉ được CSViệt Nam xử dụng như một khẩu hiệu tuyên truyền trống rỗng và nhàm chán. Ðầu thập niên 1990, sau khi Liên Xô và hệ thống CS thế giới tan vỡ, với ý đồ bám chặt quyền thống trị xã hội Việt Nam, nhóm lãnh đạọ CSVN đã đề nghị Trung Cộng đứng ra làm lãnh tu tối cao của các quốc gia CS còn sống sót , bao gồm: Trung quốc, Việt Nam, Cuba, Bắc Hàn. Trung Cộng lạnh lùng giữ im lặng trước đề nghị nồng nhiệt của CSVN. Những năm kế tiếp, vẫn với ý muốn chấp nhận quì gối trước Trung Cộng để được yên thân ngồi trên ngai vàng Việt Nam, CSVN đã liên tục phục vụ “Thiên triều” bằng các hành động sau đây:

-1999 VC ký thỏa ước nhượng một phần lãnh thổ Việt Nam cho Trung Cộng.
- 2000 VC ký thỏa ước nhượng một phần lãnh hải cho Trung Cộng.
-Ngay sau vụ  nhóm Bin Laden tấn công vào Trung Tâm Thương Mại Quốc Tế Nữu Ước và Ngũ Giác Ðài tại Hoa Thịnh Ðốn ngày 11/09/2001, VC đã cùng Trung Cộng tổ chức biểu tình gọi là “liên hoan ăn mừng chiến thắng”.
-Ngày 12 tháng 9/ 2004, VC ban hành pháp lệnh cho phép người Trung quốc với tư cách du khách (kể cả nhân viên tình báo giả dạng du khách) được quyền tự do di chuyển đến bất cứ nơi nào trên lãnh thổ Việt Nam.
-Ngoài ra, tuân lệnh Trung quốc, VC xây dựng rất nhiều cầu cống (đặc biệt là 11 cây cầu băng qua sông Hồng), phi trường, xa lộ Trường Sơn... Tất cả những phương tiện giao thông vừa kể nhằm giúp cho quân đội Trung quốc dễ dàng tràn về phương Nam Việt Nam trong trường hợp cần thiết.

Trên đây chỉ là một số sự việc trong muôn ngàn sự việc khác cho thấy VC đã phục vụ Trung Cộng bằng tất cả thái độ mẫn cán. Thay vì ban thưởng cho VC, Trung quốc laị lầm lì, công khai và triền miên đánh phá Việt Nam:

-Từ nhiều năm qua, Trung quốc không ngừng đẩy hàng lậu ồ ạt đè bẹp thị trường Việt Nam, làm cho kinh tế Việt Nam vô phương phát triển.
- Hải quân Trung quốc thường xuyên bắn giết ngư phủ Việt Nam nhằm độc chiếm vịnh Bắc Bộ.
-Trung quốc cho người xâm nhập Việt Nam để thu mua móng chân trâu, đuôi trâu với thâm ý giết chết nông nghiệp Việt Nam.
-Một số sông ngòi quan trọng của Việt Nam (đặc biệt là sông Cửu Long) có thượng nguồn từ Trung quốc. Lợi dụng vị thế địa hình vừa kể, Trung quốc không một chút ngần ngại phạm tội ác gây ô nhiễm trầm trọng môi trường sinh sống của người Việt.

Nói chung, Trung quốc không từ bỏ bất kỳ âm mưu hiểm ác nào có tác dụng đẩy đất nước và con người Việt Nam rơi vào hố diệt vong. Sự thể này cho chúng ta thấy: Trung quốc quyết tâm tạo mọi loại sức ép để biến VN thực sự thành một tỉnh của Trung quốc. Sống bên dưới các loại sức ép kia, CSViệt Nam thừa biết hai điều:

-Một là Trung quốc mãi mãi ghi nhớ Việt cộng là một tên tôi tớ phản bội. Phản bội Tàu để chạy theo Nga. Chiến tranh Hoa Việt tháng 2/1979 là vết nhơ không thể tẩy xóa được trong lịch sử bang giao VC và TC.
-Hai là, để trả hận thù cũ, một khi Việt Nam nằm gọn trong vòng tay đô hộ của Bắc xâm, Trung Cộng sẽ không dành đất sống cho VC. Ðó là hai lý do giải thích tại sao ngày nay CSViệt Nam lại phải nỗ lực tìm đường từ giã Bắc Kinh. Sau khi chia tay với Bắc Kinh, CSViệt Nam sẽ đi về đâu? Câu trả lời nằm trên mối bang giao Mỹ-Hoa.
II.- BANG GIAO MỸ- HOA.

Ðầu thập niên 1970 do nhu cầu tách rời Trung quốc ra khỏi Liên Xô, Hoa Kỳ đã tích cực giúp Trung quốc phát triển năng lực quân sự lẫn kinh tế. Ðầu thập niên 1990, Liên Xô và hệ thống CS thế giới tan rã. Bang giao Mỹ Hoa trở nên ngày một xấu đi, điển hình là các sự việc sau đây:

- Tháng 12 năm 1998, Trung quốc ký một hiệp ước hợp tác  quân sự với Taliban.Trong đó có điều khoản: Taliban cam kết chuyển giao cho Trung quốc những đầu đạn hỏa tiễn do Hoa Kỳ bắn vào các căn cứ huấn luyện của Hồi Giáo cựu đoan. Những đầu đạn này vì lý do ky thuật đã không phát nổ. Trung Quốc cần những đầu đạn kia để đánh cắp bí mật quân sự của Mỹ.
- Ngày 08/03/1999 Hoa Kỳ chính thức phản đối Trung quốc về việc Trung quốc đã gài địêp viên Wen Lee Ho vào làm việc tại căn cứ nguyên tử Los Alamos của Hoa Kỳ.
- Trước biến cố ngày 11 tháng 9 năm 2001 không bao lâu, Trung quốc ra lệnh cho cơ quan tuyên huấn của quân đội Trung quốc dịch tác phẩm “Chiến tranh không hạn chế” từ tiếng Hoa ra tiếng  Ả Rập. Bản dịch này nhằm  giúp Bin Laden huấn luyện quân khủng bố một cách tinh vi và hữu hiệu hơn. Tác giả của tác phẩm kia là Kiều Vương và Vương Tương Toại, họ là quân nhân của quân đội Trung quốc.
- Do phát triển kinh tế bừa bãi, thiếu tính toán, guồng máy kinh tế khổng lồ của Trung quốc ngày nay đang phải đối đầu với những khó khăn cực kỳ to lớn: thiếu nước, thiếu nhiên liệu, thiếu điện, lực lượng lao động già nua do chính sách mỗi gia đình một con được áp dụng từ 1979... Nhằm đương đầu với khối khó khăn vừa kể, Trung quốc một mặt xâm lấn các quốc gia lân bang, mặt khác sẵn sàng thực hiện bất kỳ hành động tàn ác nào, miễn là hành động đó đáp ứng được hy vọng cứu nguy nền kinh tế Trung Quốc. Ðó làl ý do giải thích tại sao Trung quốc bảo trợ và buôn bán vũ khí sinh hóa, nguyên tử với Bắc hàn, Iran cùng các quốc gia và tổ chức khủng bố chống Mỹ trên đất Mỹ và trên toàn thế giới. Các hành động vừa nêu chẳng những giúp Trung quốc thâu lợi nhuận mà còn tạo điều kiện để Trung quốc quấy nhiễu Hoa Kỳ. Quấy nhiễu như vậy gây  tác dụng cầm chân Hoa Kỳ ngõ hầu Trung quốc có thể một mình một ngựa tiến chiếm ngôi vị bá chủ hoàn cầu.

Ðối đầu với một Trung quốc ngang ngược và nham hiểm, Hoa Kỳ không thể không nghĩ đến một chính sách ngoại giao riêng dành cho Trung Quốc. Sự kiện Hoa Kỳ đón tiếp thủ tướng CSViệt Nam Phan Văn Khải là chỉ dấu  rõ ràng nhất cho thấy những toan tính mới của Mỹ hướng về Hoa .
III.- BANG GIAO MỸ - VIET.

                                      
            Sau một thời gian đương đầu với khủng bố, Hoa Kỳ nhận biết rằng các chế độ độc tài áp bức chính là cha đẻ của nạn khủng bố quốc tế, và rằng chỉ có chế độ dân chủ chân chính mới có khả năng giải trừ được tận gốc rễ các tệ nạn: độc tài, tham ô, buôn lậu, khủng bố...Vì vậy, trong bài diễn văn nhậm chức nhiệm kỳ II, Tổng Thống George W Bush khẳng định: “Sự tồn tại của nền tự do tại Hoa Kỳ ngày càng lệ thuộc vào kết quả tự do tại các quốc gia khác. Hy vọng tốt nhất cho nền hòa bình trong thế giới của chúng ta là sự phát triển tự do trên toàn cầu”.
Nhằm khẳng định quyết tâm dân chủ hóa toàn cầu, Tổng Thống George W Bush đưa ra hai thông điệp:

-Thứ nhất: Nói với các nhà cầm quyền độc tài áp bức: “ Những lãnh tụ của các chính quyền có thói quen cai trị lâu năm cần biết rằng: để phục vụ nhân dân, quý vị phải học đặt niềm tin nơi nhân dân của quý vị. Hãy bắt đầu con đường tiến bộ và công bằng thì Hoa Kỳ sẽ đi bên cạnh quý vị.”
-Thứ hai: nói với những người đấu tranh cho tự do, dân chủ: “ Những người cách mạng dân chủ gặp phải cảnh bắt bớ, đàn áp, tù đày hoặc lưu vong, xin quý bạn có thể hiểu rằng: Hoa Kỳ nhìn thấy quý bạn là ai: là những lãnh tụ tương lai trên quốc gia tự do của quý bạn.”

Mục tiêu quan trọng hàng đầu của chương trình dân chủ hóa toàn cầu do Hoa Kỳ phát động chính là Trung Quốc. Muốn vậy, Hiệp Chủng Quốc phải ưu tiên vô hiệu hóa những mưu toan quấy phá an ninh quốc tế của Trung quốc. Từ kế hoạch vô hiệu hóa vừa kể, Hoa Kỳ chọn CSViệt Nam như một đồng minh thân cận, kiểu Pakistan. Nếu Pakistan có chung biên giới với Iran và Afghanistan thì Việt Nam có chung biên giới với Trung quốc. Ðó là lý do giải thích tại sao ngày 3 tháng 2 năm 2005, từ San Francisco trong một bài thuyết trình in sẵn, ông Michael W Marine, đương kim Ðại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, long trọng xác nhận: “ Hoa Kỳ tôn trọng chủ quyền, sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và kiên quyết chống lại bất cứ nỗ lực nào nhằm chia rẽ hay gây rối biên giới của Việt Nam. Trái lại, chúng ta có lợi ích chung trong việc bảo đảm an ninh khu vực và trên thế giới. Mối quan hệ hợp t ác trên lãnh vực quốc phòng hiện nay của chúng ta là những bước đi đầu tiên nhằm tìm ra một phương cách phù hợp để cả hai nước có thể cùng nhau đối phó với những thách thức an ninh trong thế kỷ 21.”

Ðể củng cố lòng tin tưởng của người Mỹ và người Việt đối với chính sách ngoại giao mới trong bang giao Việt Mỹ, Ðại Sứ Michael W Marine nhấn mạnh: “ Mặc dầu cả hai quốc gia chúng ta đã có lịch sử không thuận hợp, song một sự kiện rõ ràng là cả Việt Nam lẫn Hoa Kỳ hiện không có dị biệt nào về mặt chiến lược.”
Không còn nghi ngờ gì nữa, CSViệt Nam cần chạy trốn hiểm họa Bắc thuộc lần thứ tư. Hoa Kỳ cần một đồng minh cản bước tiến của Trung quốc. Hai cái “cần” vừa kể cộng lại với nhau tạo thành bang giao Việt Mỹ 2005. Sự có mặt của Thủ Tướng Phan Văn Khải tại Hoa Kỳ vào tháng 6 năm 2005 là dấu hiệu mở đầu công cuộc đổi chủ của CSViệt Nam. Từ chủ Tầu, VC chạy qua chủ Mỹ. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, lợi dụng bàn cờ chính trị quốc tế, VC tự nhận mình là kẻ chiến thắng và gọi Mỹ là kẻ chiến bại. Ba mươi năm sau: 30/4/2005 cũng chính bàn cờ chính trị quốc tế đã buộc CSViệt Nam phải quy phục Hoa Kỳ. Quyết định quy hàng của CSViệt Nam đã đẩy chế độ độc tài này đối diện với hai giai đoạn lịch sử:

- Giai đoạn I: còn gọi là giai đoạn trăng mật giữa Mỹ và VC. Tại gia đoạn này có thể Hoa Ky đáp ứng một số yêu sách của CSViệt Nam về kinh tế cũng như về nhu cầu tăng cường sức mạnh quân sự.
-Giai đoạn II: đây là giai đoạn CSViệt Nam phải đồng loạt nhận lãnh hai loại áp lực:

                + Áp lực từ phía chính phủ Mỹ: muốn thi hành hữu hiệu vai trò lá chắn đối với Trung quốc, CSViệt Nam phải là một nhà cầm quỳên không tham ô, luật pháp phải tinh vi và khoa học. Nói ngắn và gọn, CSViệt Nam phải dân chủ hóa theo đúng chủ trương đã được xác định trong bài diễn văn nhậm chức tổng thống nhiệm kỳ II của ông George W Bush.
                + Áp lực từ phía nhân dân Hoa Ky ø(đặc biệt là người Mỹ gốc Việt): tại Hoa Kỳ dầu là Dân Chủ hay Cộng Hòa, không thể có nhà cầm quyền nào dám coi thường lá phiếu của người dân bằng cách dùng đồng tiền thuế của người dân để nuôi dưỡng dài hạn một chế độ độc tài và tham ô kiểu CSViệt Nam. Vì vậy bang giao Việt Mỹ hiểu theo nghĩa Việt Nam là Pakistan tại Ðông Nam Á, chắc chắn sẽ bị cử tri Hoa Kỳ gây áp lực nặng nề, nhằm buộc Mỹ phải dân chủ hóa Việt Nam, với tốc độ làm chóng mặt chế độ độc tài. Sỡ dĩ vị trí của người Mỹ gốc Việt trên địa bàn áp lực chính trị tại Mỹ được bài viết này nhấn mạnh là vì đó là một thực tế chính tri mà Hà Nội không thể chối bỏ. Ngày 17/04/2005 trên báo Thanh Niên của CSViệt Nam chính Lê văn Bàng thứ trưởng bộ ngoại giao của Ha Nội đã phải xác nhận:” Vai trò của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ trong mối quan hệ giữa Hoa Thịnh Ðốn và Hà Nội là rất quan trọng.”

Dưới cả hai loại áp lực kể trên, CSViệt Nam không thể không quy hàng thể chế tự do dân chủ. Ðó là chân ý nghĩa của bài viết: 30 năm sau, kẻ chiến thắng xin quy hàng. Ðó còn là sức mạnh hiển nhiên của lực phản phục được diễn tả bằng những chuyển mình của lịch sử.

                                                                       ÐỖ THÁI NHIÊN
     Tặng và lưu ý cho vợ chồng tên Việt gian Nguyễn phương Hùng
              
 
Nguyễn Phương Hùng cúi đầu, khom lưng     Hai tên Mỹ gian phản quốc Julius và                  
hèn hạ trước tên chủ Nguyễn Thanh Sơn,       Ethel Rosenberg, bị tử hình vào ngày                                                                                
 thứ trưởng ngoại giao việt cộng                     19 tháng 6-1953 vì tội làm gián điệp
                                                                           ăn cắp bí mật vũ khí bom nguyên tử,                
                                                                          bán cho Liên sô


Monday, December 3, 2012

Nhân Quyền và Cơ Cấu của Hạnh Phúc

                                                                                Đỗ Thái Nhiên

          Hạnh phúc là gì? Nói tới hạnh phúc, người ta thường nghĩ tới nhóm chữ: Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc. Ba thuật ngữ vừa kể là ba mặt của một khối tam giác đều. Thiếu đi một mặt, khối tam giác biến mất. 
          Độc lập là lời khẳng định: "Xin đừng ai chạm tới tôi”.  Để thể hiện độc lập, con người cần tự do, muốn làm gì thì làm. Độc lâp và tự do là đôi cánh của hạnh phúc. Tuy nhiên, hạnh phúc là hạnh phúc trong  xã hội và với xã hội. Không có xã hội, không thể có hạnh phúc. Vì vậy hạnh phúc của một người phải “hợp tấu” với hạnh phúc của muôn người. Đó là “mạng lưới” của hạnh phúc.

Thế nào là cơ cấu của hạnh phúc?

           Nhằm giúp cho ý niệm “cơ cấu của hạnh phúc” trở nên cụ thể và dễ hiểu, trước tiên, chúng ta hãy nghĩ tới cơ cấu của mạng lưới giao thông trên các xa lộ. Muốn cho mạng lưới này được vận hành ổn định:

1) Đường xá, cầu cống phải kiến tạo vững chắc và an toàn.
2) Luật lệ giao thông cần qui định với những tiên liệu đầy đủ chi tiết, hợp lý và nghiêm minh.
 3) Tài xế lái xe đủ sức khoẻ, có bằng lái xe hợp pháp.
4) Các loại xe lăn bánh trên xa lộ cần đạt mức toàn hảo về mặt cơ khí. Bốn thành tố vừa nêu tạo thành cơ cấu của mạng lưới giao thông.  Bây giờ hãy nói tới cơ cấu của hạnh phúc. 

           Không thể có loại hạnh phúc của cá nhân sống đơn độc trên núi lạnh, trong rừng sâu. Đời người chỉ ổn định chừng nào hạnh phúc cá nhân và hạnh phúc xã hội thường hằng giao thoa nhưng cũng thường hằng không va chạm, không xâm lấn lẫn nhau. Làm thế nào có được hai cái “thường hằng” kia? Trả lời câu hỏi này, con người đứng trước bức tranh cơ cấu của hạnh phúc. Mạng lưới hạnh phúc là mối liên hệ song phương và xoay chiều giữa hạnh phúc cá nhân và hạnh phúc xã hội nhìn một cách tổng quát. Đó là tranh sơ phác của hạnh phúc. Chi tiết hoá tranh sơ phác để nhận ra những cơ phận tinh vi giúp cho hạnh phúc cá nhân và hạnh phúc xã hội có khả năng hợp tấu. Đó là tranh chân dung của hạnh phúc, còn gọi là cơ cấu của hạnh phúc. Bảo vệ sự ổn định cho cơ cấu của hạnh phúc là đối tượng tối cao mà vận động của xã hội nhằm đạt tới. Muốn vậy, xã hội phải nhờ tới bàn tay của luật pháp: “ở đâu có xã hội, ở đó có luật pháp”.  Luật pháp là công cụ duy nhất hữu hiệu trong việc điều hành dòng sống của xã hội, điều hành cơ cấu của hạnh phúc.

          Trước khi có luật pháp, xã hội loài người đã có tâm lý yêu chuộng công bằng và lẽ phải, đã có phong tục, tập quán.  Như vậy, phong tục tập quán là hình chụp cơ cấu của hạnh phúc. Một cách căn bản nhất, luật pháp chính là phong tục tập quán được pháp lý hoá. Nhìn thực trạng xã hội, con người hình dung được luật pháp. Ngược lại, đọc luật pháp, con người thấy được thực trạng xã hội. Năm 1993 tại Vienna, Aó quốc, 170 quốc gia cùng với 1000 tổ chức phi chính phủ (NGO) đã cùng nhau biểu quyết: luật quốc tế nhân quyền bao gồm Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền 1948 và hai Công ước Quốc Tế Nhân Quyền về Dân Sự-Chính Trị và về Kinh Tế-Xã Hội 1966. Bài viết này xin chọn Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền 1948 như một văn kiện nhân quyền căn bản để đặt câu hỏi: Bằng cách nào luật quốc tế nhân quyền tổ chức và điều hành cơ cấu của hạnh phúc cho từng cá nhân và cho toàn xã hội?
           Luật quốc tế nhân quyền bao gồm 30 (ba mươi) điều khoản đã truyền đi hai loại mệnh lệnh: lệnh cấm làm và lệnh buộc phải làm. Mặt khác, khi tuyên xưng Quyền sống tự do và bình đẳng của con người (điều 1), Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền mặc nhiên đòi hỏi mỗi người có Nghĩa Vụ phải tôn trọng quyền sống tự do và bình đẳng của những người chung quanh. Với “nội dung kép” như vừa trình bày, mặc dầu mang tên gọi là Tuyên Ngôn Nhân Quyền nhưng trong thực chất, văn kiện pháp lý này có hàm ý đồng loạt minh xác nghĩa-vụ-làm-người và quyền-làm-người.
          Với văn thức hai loại mệnh lệnh, với nội dung kép, với sự đồng thuận mạnh mẽ của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền 1948 đã nêu bật bốn thành tố sau đây trong bức tranh cơ cấu của hạnh phúc:

1) Nghĩa vụ làm người:

Đã là con người, một cách bẩm sinh, ai cũng muốn thực thi nghĩa vụ làm người, đó là sự thể hiện nhân cách. Vì vậy điều (1) Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (TNQTNQ) xác định: “ Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi, có lý trí và lương tri và phải đối xử với nhau trong tình bác ái”. Phẩm cách của con người chẳng là gì khác hơn là nỗ lực liên tục và bền bỉ thượng tôn nhân tính của chính mình và của những người chung quanh. Thông qua lý luận của triết học chọn con người làm tiền đề và nhất là thông qua những ghi nhận thực tại đời người lấy ra từ Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, nhân tính gồm bốn yếu tính:

           -Tính thứ nhất là tính  xây dựng và sống với gia đình: Nam nữ trung thành song phương và bình đẳng trên mọi lãnh vực của đời sống. Điều (16) TNQTNQ: “ (a) Đến tuổi thành hôn, thanh niên nam nữ có quyền kết hôn và lập gia đình mà không bị ngăn cấm vì lý do chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. Họ có quyền bình đẳng khi kết hôn, trong thời gian hôn thú cũng như khi ly hôn. (b) Hôn thú chỉ có giá trị nếu có sự thuận tình hoàn toàn tự do của những người kết hôn. c) Gia đình là đơn vị tự nhiên và căn bản của xã hội và phải được xã hội và quốc gia bảo vệ.”

          -Tính thứ hai là tính tự vệ: Khi quyền sống bị xâm phạm, con người không được phép tự ý sử dụng bạo lực để trả đủa. Mọi tranh chấp phải giải quyết bằng thương nghị hoà bình hoặc nhờ sự phân xử của toà án. Điều (8): “ Ai cũng có quyền yêu cầu toà án quốc gia có thẩm quyền can thiệp chống lại những hành động vi phạm những quyền căn bản được hiến pháp và luật pháp thừa nhận”

          -Tính thứ ba là tính thoả mãn nhu yếu: Mỗi người phải tôn trọng quyền bình đẳng về cơ hội ( không bị chèn ép, không bị đối xử bất công) trong hoạt động kinh tế của mọi người. Điều (22): “ Với tư cách là một thành viên của xã hội, ai cũng có quyền hưởng an sinh xã hội, cũng như có quyền đòi được hưởng những quyền kinh tế, xã hội và văn hoá cần thiết cho nhân phẩm và sự tự do phát huy cá nhân của mình, nhờ những nỗ lực quốc gia, sự hợp tác quốc tế, và theo cách tổ chức cùng tài nguyên của quốc gia.”

          -Tính thứ tư là tính xã hội: Cá nhân hưởng những tiện ích do xã hội cung ứng. Đáp lại cá nhân có nghĩa vụ hợp tác với xã hội để xây dựng và phát triển xã hội.      Điều (21):  “ (a) Ai cũng có quyền tham gia chính quyền của quốc gia mình, hoặc trực tiếp hoặc do các đại biểu do mình tự do lựa chọn.(b) Ai cũng có quyền bình đẳng tham gia công vụ trong nước.”

2) Quyền làm người.

          Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con cái, đương nhiên cha mẹ có quyền quở phạt con cái. Quyền là công cụ giúp con người thực thi nghĩa vụ. Quyền và nghĩa vụ là hai mặt của một bàn tay. Như đã trình bày ở trên, nghĩa vụ làm người có tính bẩm sinh, ai cũng như ai. Vì vậy, không phân biệt chủng tộc, màu da, tuổi tác, giới tính, tôn giáo, chính kiến… mọi người đều có quyền làm người như nhau. Tuy nhiên, chế độ độc tài các loại do âm mưu toàn trị để dễ bề tham ô đã viện dẫn các lý do khác nhau nhằm thủ tiêu nhân quyền của người dân. Lý do rằng: Mỗi dân tộc có một nền văn hoá riêng, cần được giải thích nhân quyền theo nghĩa riêng và rằng tuyên ngôn quốc tế nhân quyền là sản phẩm tư tưởng của các nước phương Tây, nó có tính đề cao cá nhân chủ nghĩa, điều này không phù hợp với công việc tổ chức và điều hành xã hội phương Đông. Dĩ nhiên các luận điểm vừa nêu hoàn toàn vô căn cứ, không có dẫn chứng cụ thể và khoa học.

          Xin chớ quên rằng: thủ tiêu quyền làm người đồng nghĩa với hành động ngăn cản con người thực thi nghĩa vụ làm người, nghĩa vụ thượng tôn nhân tính. Sự thể này sẽ nhanh chóng biến quan hệ giữa con người với con người trở thành quan hệ giữa động vật này với động vật kia, quan hệ mạnh được yếu thua, quan hệ “mắt đổi mắt, răng đổi răng”. Lúc bấy giờ nhà cầm quyền độc tài sẽ viện lý do dân trí thấp, lý do “an ninh trật tự công cộng là nhu cầu sống còn của xã hội” để biến xã hội loài người thành một chuồng động vật đặt dưới quyền khống chế cực kỳ hà khắc của guồng máy công an trị.

3)Văn hoá nhân văn.

          Trong trường hợp nhân quyền được tôn trọng toàn phần, nhân tính được thượng tôn: gia đình hạnh phúc, kinh tế vận hành trên nguyên tắc bình đẳng cơ hội, mọi va chạm đều được giải quyết trong thương nghị hoà bình, cá nhân hợp tác hoà hài với xã hội. Do nhân tính được thượng tôn, do lòng thương yêu và tôn kính lẫn nhau, người dân tự giác tôn trọng luật pháp của quốc gia. An ninh trật tự xã hội được vận hành trên tinh thần tự giác của người dân là chân ý nghĩa của thiên hạ thái bình. Xã hội thái bình là môi trường cần yếu giúp văn hoá nhân văn thăng hoa.

4) Dân chủ nhân quyền.

          Nghĩa vụ làm người là nghĩa vụ bẩm sinh của người dân. Nhân quyền vừa là quyền bẩm sinh của người dân vừa là công cụ giúp người dân thực thi nghĩa vụ làm người. Văn hoá nhân văn thăng hoa là công trình được vươn lên từ tim óc của người dân. Do ba sự kiện “của người dân” vừa nêu, chế độ chính trị điều hành đời sống của quốc gia hiển nhiên phải là chế độ do dân làm chủ. Dân chủ  ở đây chắc chắn không là “ dân chủ tập trung” kiểu Cộng Sản, dân chủ “đảng cử, dân bầu”. Dân chủ ở đây là dân chủ tam quyền phân lập, trong đó mọi thao tác dân chủ đều được giải thích minh bạch thông qua sự viện dẫn nghiêm chỉnh từng điều khoản của bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền ngày 10/12/1948. Điều (21) khoản (c) TNQTNQ minh xác: “Ý nguyện của quốc dân phải được coi là căn bản của mọi quyền lực quốc gia, ý nguyện này phải được biểu lộ qua những cuộc tuyển cử có định kỳ và trung thực, theo phương pháp phổ thông đầu phiếu kín, hay theo các thủ tục tuyển cử tự do tương tự”.

          Điều 21, khoản (c) vừa trích dẫn: dân chủ đích thực là phương pháp luận của nhân quyền. Dân chủ biến tư tưởng nhân quyền thành hành động sống cụ thể. Không có dân chủ, không thể có nhân quyền. 


Kết luận.

           Nhân quyền không hề là một tài liệu đề cao cá nhân chủ nghĩa. Nhân quyền là sản phẩm tư tưởng được hợp soạn và/hoặc được nhìn nhận bởi toàn bộ xã hội quốc tế văn minh. Nhân quyền không mảy may gây tác hại cho an ninh trật tự xã hội như các chế độ độc tài xuyên tạc. Ngược lại chính nhân quyền đã sản sinh ra môi trường an ninh trật tự tự giác bằng cách cung cấp cho xã hội lớp người thượng tôn nhân tính, lớp người tự giác. Kỷ luật hoàn toàn dựa vào sự canh chừng của cảnh sát là loại kỷ luật của những xã hội chưa trưởng thành. Xã hội vận hành trong trật tự không vì tâm lý khiếp sợ công an và toà án mà vì tính tự giác của con người, đó là xã hội văn minh thượng đẳng.

          Mãi cho tới đầu thế kỷ 21 nhân quyền vẫn chỉ là ước mơ chưa thành của loài người. Tuy nhiên, nhân quyền không thể đơn phương vận động và phát triển. Nhân quyền phải gắn bó chặt chẽ với một hạch tâm gồm bốn “điện tử”: nghĩa vụ làm người + quyền làm người + văn hoá nhân văn + dân chủ nhân quyền. Nhân của hạch tâm là hạnh phúc của con người. Bốn điện tử kia không điện tử nào được xem là lãnh đạo . Không điện tử nào có khả năng tồn tại bên ngoài hạch tâm. Cả bốn điện tử đều phải hổ tương tác động để cùng nhau vận động và phát triển, cùng nhau lấy hạnh phúc của đời người làm đối tượng để phục vụ. Hạch tâm vừa mô tả được gọi là cơ cấu của hạnh phúc. Có thấy được và hiểu được cơ cấu của hạnh phúc, con người mới có cơ hội và khả năng để cùng nhau thực hiện giấc mơ  hạnh phúc: hạnh phúc cho xã hội và cho chính mình. Ý chí biến giấc mơ hạnh phúc trở thành hiện tượng sống cụ thể của đời người chính là lời chúc hạnh phúc mà bài viết này xin trân trọng kính gửi tới mỗi Quý Độc Giả nhân dịp kỷ niệm ngày Quốc Tế Nhân Quyền 10/12/2012 ./.

Đỗ Thái Nhiên

Tuesday, January 17, 2012

TRẬN CHIẾN XÓT XA

                                                                          Ðỗ Thái Nhiên

Người ta gọi mỗi đụng độ giữa người với người là một trận chiến : không chiến, hải chiến, bộ chiến, bút chiến, khẩu chiến... Nhắc tới trận chiến, người ta lập tức nghĩ đến hận thù nghi ngút, sát khí đằng đằng. Tuy nhiên riêng tôi, bằng bài viết này tôi sẽ phải bước vào một trận chiến với tất cả xót xa. Thế nào là trận chiến xót xa? Phải chăng nỗi xót xa sẽ làm giảm sức bền và sức mạnh của trận chiến? Nguyên nhân nào đã dẫn đến trận chiến xót xa. Tại sao biết trước là xót xa nhưng vẫn phải ứng chiến? Tôi xin phép được trả lời các thắc mắc vừa nêu bằng phần trần thuật và phần phân tích như sau :

                                                Trần thuật sự việc

Ðược phát hành ngày 22 tháng Giêng năm 1989, báo Thời Luận Xuân Kỷ Tỵ trang 37 và các trang tiếp theo đã cho đăng tải một truyện ngắn có tựa đề “Gặp gỡ ngày cuối năm” của nhà văn Nhật Tiến.
Chuyện xảy ra trong một trại tù cải tạo giữa một đại tá VC và một người tù cải tạo. Họ là anh em ruột : đại tá là anh, tù là em. Họ có ba mươi năm không gặp nhau và có thêm năm năm cuộc gặp mặt bị người em từ chối. Cuối cùng do lời trăn trối của người cha, hai anh em đã gặp nhau. Cuộc gặp gỡ đã được mở đầu bằng thái độ “không đội trời chung” của người tù. Người em nói thẳng ước muốn của mình : “Nếu tôi có súng tôi có thể bắn anh mà không một mảy may thương xót gì.” Câu nói hung hãn của người tù đã được viên đại tá đáp lễ bằng cách cho rằng bắn chết một cá nhân sẽ chẳng thay đổi được gì. Mặt khác, vẫn theo ý kiến của đại tá VC, nếu cho rằng bắn giết lẻ tẻ để nuôi căm thù chờ ngày quần chúng nổi dậy lật đổ bạo quyền thì lại càng vô lý bởi hai lý do:
- Phần đông sĩ quan cải tạo về đều ôm ước mơ đoàn tụ với thân nhân ở nước ngoài. Ðó là một hình thức tháo chạy.
- Quần chúng không thể nổi dậy vì quá bận rộn với việc chạy cơm.
Cầm nắm hai lý do nêu trên cộng với lời trăn trối của ông bố và ước muốn “nối lại sợi dây ràng buộc gia đình”, viên đại tá hối thúc người em hãy làm tính cộng chứ đừng làm tính trừ, hãy kết hợp chứ đừng thù hận. Có như vậy đại tá VC mới có thể là “bạn đồng hành của chú.” Tuy nhiên, khi người tù nêu câu hỏi : phải chăng đồng hành có nghĩa là “cùng nắm tay xây dựng cái chế độ CS phi nhân của anh?” Viên đại tá đã tránh né trả lời câu hỏi này bằng cách bảo rằng CS đã lỗi thời, rằng CS đã thay đổi bản chất từ lâu rằng “chúng nó chỉ níu lấy điều giả trá để mưu cầu đặc quyền đặc lợi cho bè lũ phe nhóm của mình,” rằng “nếu phải dùng danh từ ngụy thì chính chúng nó ngụy hơn ai hết” và rằng: “Chỉ có những thằng ngu cho tới bây giờ mới tin tưởng chủ nghĩa CS sẽ mang lại ấm no và hạnh phúc cho nhân loại.”
Sau một lúc sôi nổi “tố cộng”, viên đại tá tiếp tục dịu dàng “chiêu hồi” người em tù: “...Tôi cho rằng gặp nhau để rồi vẫn thù hận về sau thì sự gặp gỡ chẳng mang lại ý nghĩa gì... Mà tại sao ta phải làm như thế trong khi mọi sự đều đổi thay?... Tại sao không thể nhìn nhận nhau để toan tính một cái gì mới mẻ cho quê hương?”
Mặc cho lời lẽ chiêu hồi đầy tình tự quê hương, người tù vẫn “lạnh lùng” báo cho ông anh đại tá biết : “Nếu có điều kiện thì chắc chắn tôi sẽ toan tính một cái gì với bất cứ ai, trừ những tên cán bộ CS.” Câu nói vừa nêu đã làm cho cuộc gặp gỡ đột ngột trở nên căng thẳng : người em ngỏ ý nếu có súng, y sẽ bắn người anh, viên đại tá lập tức chiều ý em bằng cách rút khẩu súng ở phía sau thắt lưng ra và ném lên bàn :
- Có súng rồi đó, chú bắn đi!
Phản ứng bất ngờ của viên đại tá vừa làm cho người tù “cảm thấy thiếu can đảm để cầm súng lên tay, vừa đẩy người tù rơi vào tình trạng lúng túng trước phong cách hào hiệp của người anh". Từ đó người tù tin rằng: “Trong hàng ngũ của những kẻ mà chú coi là thù nghịch, thật ra vẫn còn ẩn chứa những nhân tố có thể đem áp dụng toán cộng chứ không phải toán trừ.” Cuối cùng, hai anh em bắt tay nhau và lần đầu tiên người tù “có cảm giác buốt nhói của một tình thân thiết ruột thịt.”

                                    Phân tích “Gặp gỡ ngày cuối năm”

            Hẳn nhiên, đối tượng của nhà văn bao giờ cũng là độc giả. Nhà văn viết cho độc giả. Thế nên điều quan trọng không là những gì nhà văn suy nghĩ trong khi cầm bút mà chính là những gì đã tác động vào tâm trí của độc giả sau khi họ đọc xong tác phẩm của nhà văn. Nhà văn làm cho độc giả cảm thấy thư thái sau những đấu vật với đời sống : độc giả cảm tạ nhà văn. Nhà văn dìu dắt độc giả tìm lại niềm tin trong cảnh vô cùng : độc giả tri ân nhà văn. Nhà văn đưa dẫn độc giả trong tăm tối của lịch sử tiến tới con đường phục hồi sinh mệnh dân tộc : độc giả tôn vinh nhà văn. Thế nhưng nếu nhà văn lôi cuốn độc giả bước vào một giao thông hào vòng vo hình chữ Z để rồi cuối giao thông hào đó cả nhà văn lẫn độc giả đều ngơ ngác trước một bãi kẽm gai mênh mông, bạt ngàn : độc giả sẽ phản kháng nhà văn bằng tất cả sức mạnh của mọi hình thức phản kháng.
Có thể nói được rằng “Gặp gỡ ngày cuối năm” là một truyện ngắn chuyên chở đầy ắp tư tưởng chính trị. Tuy nhiên, những tư tưởng chính trị này lại rối tung như những lùm kẽm gai. Lùm kẽm gai này ẩn giấu toan tính dùng lòng khoan dung của đạo đức giả để che lấp nghĩa vụ phục hoạt dân sinh. Lùm kẽm gai nọ hàm chứa quan niệm cho rằng nếu cây roi được đặt nằm song song với củ cà rốt thì dòng lịch sử sẽ êm ả trôi bất tận giữa hai đường song song vừa kể. Lùm kẽm gai kia bao gồm mọi nỗ lực kết nối những ý kiến đối nghịch lẫn nhau về Cộng Sản, những ý kiến này “trống đánh xuôi kèn thổi ngược” đến độ độc giả không thể có kết luận dứt khoát về quan điểm của Nhật Tiến đối với Cộng Sản. Bây giờ tôi xin phép phân tích từng lùm kẽm gai một để sau đó tôi có thể trình bày những cảm nghĩ tổng quát của tôi sau khi đọc xong “Gặp gỡ ngày cuối năm.”

1) Nhật Tiến và đấu tranh phản kháng:
Người ta thường bảo : sống là đấu tranh. Ðấu tranh để tự thắng và đấu tranh để làm chủ mọi hiện tượng sống trong đời người. Tuy nhiên không phải đấu tranh nào cũng kết thúc bằng chiến thắng. Ðấu tranh không cân đo thắng bại gọi là đấu tranh phản kháng. Nhân cách cao cả của một người không thể là gì khác hơn là ý chí phản kháng : phản kháng những phi lý của đời sống. Tại Việt Nam ngày nay, phi lý lớn lao nhất nằm ở sự thể quyền lợi kinh tế của toàn dân đã bị đảng CSVN biến thành quyền lợi riêng của họ. Trong hoàn cảnh vừa nói, phàm là người Việt tự trọng không thể không dự phần vào cuộc đấu tranh phản kháng Cộng Sản. Tùy theo tình huống, tư tưởng phản kháng có thể lịch sự bộc lộ từ ngôn ngữ, cũng có thể nóng bỏng phát nổ từ viên đạn.
Thế nhưng khi người tù trong “Gặp gỡ ngày cuối năm” ngỏ ý muốn bắn hạ Việt cộng, Nhật Tiến đã không ngần ngại kết luận rằng đó là một ý muốn “điên rồ” vì loại đi một cá nhân sẽ chẳng có gì thay đổi đâu, và vì nó sẽ làm tăng lòng thù hận từ phía giai cấp thống trị. Thái độ của người tù hiển nhiên là thái độ ngạo nghễ của một chiến sĩ phản kháng. Trong đấu tranh phản kháng, có rất nhiều tác vụ không nhằm tức thời lật đổ chế độ mà chỉ nhằm biểu dương một phản kháng có tính triết lý, hoặc chỉ nhằm nêu cao gương anh dũng với chủ ý khuyến cáo mọi người hãy bền chí trong đấu tranh chống bạo quyền. Tiếng bom Sa Ðiện của Phạm Hồng Thái là thí dụ điển hình và ngời sáng của lịch sử đấu tranh phản kháng. Dĩ nhiên can đảm phản kháng hàm ngụ can đảm chấp nhận hậu quả của phản kháng. Lo sợ hành vi phản kháng sẽ làm tăng mức độ hà khắc của chế độ độc tài, chỉ là lo sợ của những kẻ muốn lành bệnh nhưng lại rất sợ thuốc đắng. Thay vì thành thực nhìn nhận tâm lý sợ thuốc đắng, những kẻ ngại chống Cộng đã làm ra vẻ cao thượng trong lời kêu gọi lấy tình thương xoá bỏ hận thù. Thù chưa trả được trở thành hận. Hận thù chính là quyết ý trả thù. Trên bình diện quyền lợi cá nhân, trả thù chỉ là một trao đổi đơn giản : răng đổi răng, mắt đổi mắt. Trên bình diện quyền lợi dân tộc, trả thù phải là hành động sắt thép trong đòi hỏi : hãy chấm dứt mọi nỗ lực bóp méo dân tộc tình, dân tộc tính hãy để cho dòng tâm sinh mệnh dân tộc được vận hành một cách thuận hợp theo đúng tự tính của dân tộc. Thế nên nhắc đến hận thù, người ta phải nghiêm túc phân định hận thù của cá nhân hay hận thù của dân tộc. Nếu là hận thù cá nhân thì các cá nhân đương sự có thể tùy tiện dĩ  hòa vi quý, tùy tiện đem tình thương xóa bỏ hận thù. Nhưng nếu là hận thù nằm trong hồn sử của dân tộc thì không cá nhân nào, không đoàn thể nào được phép đại diện cho quyền lợi của dân tộc để kêu gọi mọi người hãy xóa bỏ hận thù nhằm đổi lấy an thân hoặc nhằm được tiếng là bao dung, là độ lượng. Hận thù của một dân tộc chỉ có thể giải trừ bằng một phương cách duy nhất, đó là sự triệt để vãn hồi tính trong lành cho dòng tâm sinh mệnh dân tộc. Dĩ nhiên đấu tranh giai cấp cũng như sự việc cộng sản cưỡng chiếm toàn bộ quyền lợi kinh tế của dân tộc là những vi khuẩn độc hại cần phải loại bỏ ra khỏi cơ thể dân tộc. Nói tới loại bỏ, nói tới đấu tranh và hận thù, người ta không thể không nghĩ đến bạo lực. Tuy nhiên, chúng ta phải nhìn bạo lực dưới ba góc cạnh khác nhau :
- Trong thường thái : tức là trong hoàn cảnh bình thường, tương quan giữa người với người là tương quan hòa hài, mọi hình thức bạo lực đều không được chấp nhận.
- Trong bệnh thái : người ta xử dụng bạo lực để thực hiện dục vọng “cá lớn nuốt cá bé”. Dục vọng này, hiện tại Việt Nam Cộng Sản đang che đậy dưới lớp áo “yêu Bác, yêu Ðảng”
- Trong phi thường thái  : toàn bộ chi thể của dân tộc có nghĩa vụ phải vận dụng bạo lực để đưa xã hội từ bệnh thái trở về thường thái. Ðấu tranh chống CSVN ngày nay chính là đấu tranh phi thường thái.
Xin đừng đồng hóa đấu tranh phi thường thái với hận thù cá nhân. Xin đừng mạt sát những phản kháng trong đấu tranh phi thường thái là “điên rồ”. Trên đường đi từ phi thường thái về thường thái, xin đừng than khóc cảnh nồi da xáo thịt, xin đừng kêu gọi hòa hợp hòa giải. Tập đoàn nào cho đến nay vẫn cẩn thận nghiên cứu lý lịch ba đời của người dân trước khi ban cho đương sự một việc làm với lương tháng trị giá ba tô phở ? Tập đoàn nào đã giết hại hàng triệu người Việt qua những gian mưu trong mặt trận Việt Minh, trong 20/7/1954, trong 30/4/1975 và trong hàng loạt những vụ tước đoạt tài sản của nhân dân ?
Tập đoàn nào đã và đang cứng rắn trong phân biệt đối xử giữa đảng viên và quần chúng, giữa kẻ vô thần và người có tín ngưỡng ? Tại sao lời kêu gọi xóa bỏ hận thù không nhằm vào CSVN mà lại nhằm vào những người tù trên răng vỡ dưới khố rách, lại nhằm vào những người sống kiếp lưu vong ngày đêm tim óc thường xuyên bị đục phá bởi lòng thương nhớ quê cũ đọa đày ?

2) Nhật Tiến và lịch sử quan :
Lịch sử quan là mắt nhìn về lịch sử. Nhìn để thấy, để hiểu, và để tiên liệu. Muốn có lịch sử quan, người ta phải học hiểu về thời cơ luận. Thời cơ luận là môn học giải thích và minh chứng mỗi gắn bó cũng như mỗi đổ vỡ giữa thời và cơ trong dòng lịch sử. Nói một cách tổng quát nhất, bằng vào những giải thích và minh chứng vừa kể, và bằng vào những hiểu biết tròn đầy về qui luật vận động và phát triển của vũ trụ, của nhân sinh và của chính trị, thời cơ luận đã xác quyết rằng bất kỳ hành vi nào xâm hại đến quyền sống của con người, chà đạp nhân bản, nhân tính, nhân chủ, lập tức hành vi đó sẽ bị loài người phản kháng, do vậy bánh xe lịch sử chuyển động. Ðó là ý nghĩa cốt lõi của lịch sử quan.
Dĩ nhiên, không phải bánh xe lịch sử bao giờ cũng có khả năng vận hành một cách bén nhạy. Rất nhiều khi bánh xe lịch sử bị tắc nghẽn bởi những phản động lực, còn gọi là những lực phản xu thế. Tuy nhiên tình trạng tắc nghẽn này có tính cách tạm thời, không sớm thì muộn, chắc chắn lịch sử sẽ đào thải những lực phản xu thế. Biết bao chế độ độc tài đã phải trả giá bằng chính xương máu của họ về sự thể họ đã cả gan dám chống lại xu thế của lịch sử.
Trong “Gặp gỡ ngày cuối năm”, Nhật Tiến đã luận về lịch sử một cách hết sức đơn giản. Dùng lời lẽ của viên đại tá, Nhật Tiến mạnh dạn giải thích lịch sử như sau :
“Chú ở tù năm năm rồi mà còn ấu trĩ đến thế à ? Phải nói rằng chính sách cải tạo không nhằm dạy dỗ các chú trở thành những con người Cộng sản mà mục đích của nó là nhằm tiêu diệt khả năng đề kháng của những người ở phe chú. Thành quả của nó thế nào, chú đã thấy. Phần đông sĩ quan cải tạo về đều ôm mơ ước là đoàn tụ với thân nhân ở nước ngoài. Ðó có phải là một hình thức tháo chạy hay không ? Còn nhân dân nổi dậy ? Họ làm sao nổi dậy được khi chính những người có khả năng chiến đấu, lãnh đạo như các chú cũng chỉ có một ước mơ là ra đi, và mặt khác, làm sao họ nổi dậy được khi mà đời sống bây giờ đã thu gọn họ vào có một điều kiện duy nhất là lo chạy vạy để có miếng cơm hàng ngày. Chủ trương thắt bao tử để cai trị của chính quyền nó có tác dụng ghê gớm như thế nào, chú chưa nhìn ra hay sao ?”
Qua câu nói vừa rồi của viên đại tá, Nhật Tiến muốn khẳng định hai điều :

1) Chính sách cải tạo của CSVN đã hoàn toàn thành công, đã đánh gục được khả năng đề kháng của những người tù.
2) Chủ trương thắt bao tử để cai trị của “chính quyền” CSVN đã có tác dụng ghê gớm.
Ðối với Nhật Tiến hai sự kiện kể trên đã kết thành sợi dây xích khóa chặt bánh xe lịch sử  : tù cải tạo về đã tháo chạy bằng cách đoàn tụ với thân nhân ở nước ngoài, nhân dân vĩnh viễn không thể nổi dậy. Phải chăng cây gậy cải tạo và củ cà rốt đối với bao tử thắt lại có đủ khả năng giúp cho một chế độ độc tài không bao giờ có thể bị lật đổ ? Phải chăng phần đông (có nghĩa là đa số quá bán) tù cải tạo đều “tháo chạy” và khi chạy được ra nước ngoài, những tù “tháo chạy” này đã hoàn toàn không còn nghĩ gì đến quê hương ? Phải chăng quần chúng là bầy cừu, tù cải tạo là giới chăn cừu. Vắng mặt giới chăn cừu, khả năng phản kháng chế độ độc tài của quần chúng bị triệt để bẻ gãy? Các câu hỏi vừa kể đều có thể bị trả lời bằng những cái lắc đầu từ phía những người có công tâm và có hiểu biết trung bình, đôi khi người ta cũng có thể bắt gặp một vài cái gật đầu từ phía những kẻ ấu trĩ.
Không có sự chối cãi rằng “cải tạo” và “thắt bao tử” là hai chính sách đã gây sức nén đối với lịch sử. Nhưng cũng không có sự chối cãi rằng sau sức nén là sức nổ. Sức nổ chính là động lực giúp bánh xe lịch sử chuyển động. Khoảng thời gian từ sức nén đến sức nổ là bao lâu ? Thắc mắc này không thể giải đáp bằng tâm lý nóng nảy của cá nhân trong dòng thời gian. Ðối với cá nhân, một hai thập niên là quá dài. Ðối với lịch sử, một hai thập niên chỉ là một thoáng thoi đưa. Ðiều quan trọng không ở một hay hai thập niên, điều quan trọng nằm ở chân lý “có nén tức có nổ”. Nén là chà đạp quyền làm người. Nổ là phá vỡ thế lực chống đối nhân quyền. Thời gian từ nén đến nổ sẽ được thâu ngắn nếu người ta biết vận dụng qui luật chi phối đòn bẫy giữa tĩnh và động. Làm cho hiện tượng nổ sớm xảy ra là nghĩa vụ của mọi người dân trong giai đoạn lịch sử dân tộc đen tối.
Nhật Tiến chỉ thấy sức nén chứ không thấy sức nổ. Vì vậy Nhật Tiến chỉ biết luận về lịch sử chung quanh sức nén như một thái độ khiếp sợ và an thân. Luận về lịch sử theo kiểu Nhật Tiến đã làm cho người cùng với độc giả của Nhật Tiến “bị trôi xuống cơn dốc của nỗi tuyệt vọng” và cảm thấy: “Nhược hẳn người ra.” Ðó là sai lầm căn bản của Nhật Tiến về lịch sử quan. Và, đó cũng là điều mà Nhật Tiến nên ân cần xin lỗi độc giả của ông ta.

3) Nhật Tiến và mắt nhìn đối với Cộng Sản :
Chỉ bằng một chuyện ngắn, Nhật Tiến đã để lộ hai quan điểm mâu thuẫn về Cộng sản.
- Quan điểm 1: quan điểm chống Cộng dứt khoát : “Chỉ những thằng ngu thì cho tới bây giờ mới còn tin tưởng rằng chủ nghĩa cộng sản sẽ đem lại ấm no, hạnh phúc cho nhân loại.”
 Hoặc :
“Chúng nó chỉ níu lấy điều giả trá để mưu cầu đặc quyền, đặc lợi cho bè lũ, phe nhóm của mình. Chú nhìn kỹ mà xem, chúng nó nêu chiêu bài chống phong kiến bóc lột, nhưng trong đời sống thực tế, chúng nó phong kiến hơn ai hết. Chúng nó nêu khẩu hiệu “không có gì quý hơn độc lập tự do” nhưng chúng nó tước đoạt độc lập tự do của con người hơn ai hết. Nếu phải dùng danh từ ngụy thì chúng nó ngụy hơn ai hết.”
- Quan điểm 2 : quan điểm này cho rằng những người chống Cộng cần phải được giải trừ khỏi những ám ảnh bởi hai chữ Cộng sản vì : “Chủ nghĩa Cộng sản thuần túy đã biến đổi bản chất của nó từ lâu rồi. Hãy cứ nhìn cái cảnh những tên lãnh tụ siêu cường qua lại thăm viếng nhau và cụng với nhau những ly sâm banh thì đủ thấy.”
Và vì :
“Tôi cho rằng gặp nhau để rồi vẫn hận thù về nhau thì sự gặp gỡ chẵng mang lại ý nghĩa gì. Mà tại sao ta phải làm như thế trong khi mọi sự đều đã đổi thay ?”

          Quan điểm (2) hiển nhiên mâu thuẫn với quan điểm (1).

Nhật Tiến muốn thuyết phục độc giả chấp nhận quan điểm (2). Ðiều đáng tiếc là quan điểm (2) hoàn toàn phi lý. Người ta không hiểu Nhật Tiến đã căn cứ vào yếu tố lý luận nào để có thể khẳng định dứt khoát là “chủ nghĩa cộng sản thuần túy đã biến đổi bản chất của nó từ lâu rồi.” Thế nào là chủ nghĩa Cộng sản ? Thưa rằng chủ nghĩa Cộng sản gồm hai phần rõ rệt  :

- Phần thứ I là phần lý luận triết học, phần này gồm : tiền đề triết học duy vật và công cụ lý luận duy vật.
- Phần thứ II : là phần vận dụng luận gồm sử quan duy vật, kiến trúc xã hội duy vật, văn minh duy vật và cách mạng duy vật.
Nhìn vào bố cục của chủ nghĩa Cộng Sản như đã trình bày ở trên, người ta biết ngay rằng phần I chính là phần quy định bản chất của chủ nghĩa. Cho đến ngày nay CS, kể cả CSVN, chưa hề có một thay đổi nhỏ trong phần I, còn gọi là phần trí tuệ của chủ nghĩa. Nếu phần lý luận Triết học thay đổi chủ nghĩa CS sẽ chẳng còn là CS nữa. Những thay đổi hiện nay của CS chỉ là những thay đổi trong phương pháp kinh doanh của đảng. Trước hoặc sau thay đổi, đảng CS vẫn là chủ nhân ông tối cao và duy nhất về tư tưởng cũng như về kinh tế đối với xã hội bị Cộng sản cai trị. Trước hoặc sau thay đổi, giáo dục của Cộng sản vẫn là sự triển khai triết học Duy Vật với mục đích đào tạo nhân sự để cung ứng cho nhu cầu xây dựng và củng cố sức mạnh của đảng.
Suy nghĩ về những nét sơ đẳng nhất, nhưng căn bản nhất trong cấu trúc chủ nghĩa CS và trong công trình vận dụng chủ nghĩa này vào việc khống chế xã hội Việt Nam hiện nay, tôi thực sự vô cùng ngạc nhiên khi nghe Nhật Tiến nghiêm trang xác quyết “chủ nghĩa CS thuần túy đã biến đổi bản chất của nó từ lâu rồi.” Nỗi kinh ngạc này biến thành ý nghĩ hoài nghi trình độ chính trị của Nhật Tiến vào lúc Nhật Tiến chứng minh điều được gọi là “biến đổi bản chất” bằng cách trịnh trọng viện dẫn hình ảnh : “Những tên lãnh tụ siêu cường qua lại viếng thăm nhau và cụng với nhau những ly sâm banh” như một phương pháp biện chứng trong mục tiêu xác định bản chất của biến đổi. Quả thực Nhật Tiến đã dùng tâm tính đơn giản và thật thà đến độ tội nghiệp của một bậc chân tu để giải trừ chất “mê hồn” của mặt trận chính trị.

4) Nhật Tiến và bài toán cộng :
Mặc dầu không phân biệt được hận thù trong tương quan cá nhân và hận thù trong hồn sử, mặc dầu không xác định được đâu là bản chất, đâu là hiện tượng trong cách vận dụng thiên biến vạn hóa của chủ nghĩa duy vật từ phía những người cộng sản, Nhật Tiến vẫn nhiệt thành kêu gọi mọi người hãy “nhìn nhận nhau để toan tính một cái gì mới mẻ cho quê hương,” hãy hòa hợp hòa giải chứ đừng thù hận, hãy làm toán cộng chứ đừng làm toán trừ. Dĩ nhiên không có sự chối cãi rằng những “nhìn nhận nhau,” những hòa hợp hòa giải, những bài toán cộng là chân lý tuyệt hảo. Tuy nhiên, điều quan trọng không là vấn đề chân lý là gì mà là vấn đề : làm thế nào để thực hiện chân lý đó. Ðiều quan trọng không là bài toán cộng mà là thắc mắc làm thế nào để cộng. Chân lý không đi kèm phương pháp thực hiện chỉ là chân lý chiêu bài, chân lý mỵ dân, chân lý của những kẻ hiểu lơ mơ về chân lý. Ðọc “Gặp gỡ ngày cuối năm” mọi người đều nhận biết :
- Ðại tá Việt cộng, đại diện cho nhà cầm quyền, đại diện cho phe tả.
- Người tù đại diện cho những người thuộc chế độ VNCH, đại diện cho phe hữu.
Bài toán mà Nhật Tiến muốn cộng chính là bài toán cộng giữa tả và hữu tại Việt Nam. Làm thế nào để có thể cộng tả với hữu ? Như mọi người đã biết lịch sử chẳng qua chỉ là sự tái tục bất tận của một loại vòng quay ba điểm : chính đề, phản đề, tổng hợp đề. Sau mỗi lần tái tục, vòng quay này lại có thêm nhưng tăng tiến về phẩm lẫn lương. Hiện sử Việt Nam là một cuộc đấu tranh lẫn nhau giữa tả và hữu, giữa chính đề và phản đề. Vì thế xã hội Việt Nam trong tương lai chắc chắn không thể là xã hội của tả hay của hữu, mà là xã hội của tổng hợp đề. Xã hội tổng hợp đề chằng là gì khác hơn là xã hội Tam Dân. Tam Dân ở đây không liên hệ gì đến Tam Dân của Tân Văn cả. Tam Dân ở đây bao gồm : dân bản, dân tính, dân chủ.
- Dân bản : hàm ý mọi toan tính có liên hệ đến tâm sinh mệnh Việt phải khởi đi từ quyền lợi Việt và nhằm phục vụ quyền lợi Việt.
- Dân tính : tính thể hiện trong đời sống trở thành tình. Dân tộc tính và dân tộc tình chính là nội dung của văn hóa Việt. Vì vậy dân tộc tính đòi hỏi văn hóa Việt phải được triệt để phục hoạt.
- Dân chủ : dân chủ đích thực là một nền dân chủ được vận hành trong tinh thần vô chánh phủ. Ðiều này xác minh rằng dân chủ trong tư tưởng Việt phải là một nền dân chủ diễn ra trong trật tự, nhưng lại là trật tự của tự giác chứ không là trật tự của cảnh sát công an.
Xã hội Tam Dân có lý tưởng là Tam Nhân (Nhân bản - Nhân tính - Nhân chủ). Lý tưởng Tam Nhân sẽ giúp cho xã hội Tam Dân của mỗi dân tộc vận động và kết hợp lẫn nhau để tạo ra một xã hội quốc tế đích thực hòa hợp và ổn định.
Vừa rồi tôi đã trình bày một cách khái quát nhất hình ảnh của xã hội Việt Nam trong tương lai, một xã hội mà tôi gọi là tổng hợp đề của hiện sử. Thế nên trong tương lai Việt Nam tả hay hữu sẽ chẳng có phe nào toàn thắng. Tả và hữu dầu muốn hay không muốn cũng sẽ phải gặp nhau trong tâm sinh mệnh dân tộc hiểu theo ý nghĩa tròn đầy của Tam Dân. Ðó là xu thế của lịch sử. Ðó là ý nghĩa của bài toán cộng tả và hữu. Nhiệm vụ của mỗi người Việt yêu nước ngày nay là hãy thuyết phục tả lẫn hữu phải rủ bỏ tất cả những sinh hoạt kinh tế, văn hóa, chính trị nào không phù hợp với dòng sống Việt để có thể hội nhập vào tâm sinh mệnh dân tộc càng sớm càng tốt. Trong cuộc hội nhập này, phe tả có vẻ khó khăn hơn bởi họ phải gột rửa toàn bộ chủ nghĩa duy vật như một hành vi tiên khởi và căn bản.
Bây giờ chúng ta hãy trở về với bài toán cộng trong “Gặp gỡ ngày cuối năm.” Nhật Tiến đã đơn giản hóa bài toán cộng bằng cách cho rằng chỉ cần “rũ bỏ định kiến” là “chú” và “tôi” có thể “đồng hành.” Nhật Tiến quên rằng người ta chống cộng không vì định kiến mà vì người ta không đồng ý với xã hội con đẻ của Marx Lenine. Nếu bài toán cộng chỉ đòi hỏi “rũ bỏ định kiến” thì đó chỉ là bài toán cộng giữa hai cá nhân. Ngay cả trong trường hợp cộng cá nhân, Nhật Tiến vẫn lúng túng trong việc tìm đáp số. Thế nên để cho bài toán cộng có vẻ dễ dàng, Nhật Tiến đã vụng về đặt hai nhân vật trong truyện ở vào hai vị trí cao và thấp sai biệt rõ rệt : bên này là đại tá, bên kia là tù ; bên này là anh, bên kia là em. Ðã vậy bài toán cộng còn được kích động bởi “lời trối trăng” của người bố, và nhất là bởi màn thách thức nổ súng ở khúc kết. Có thể nói rằng màn thách nổ súng là cái chốt của câu chuyện. Màn này đã đưa đến sự việc hai anh em cảm động cầm tay nhau cũng như đã đưa người tù từ “xã hội tự do nhân bản” về với “chính chúng nó ngụy hơn ai hết.” Nói cách khác truyện ngắn “Gặp gỡ ngày cuối năm” hiển nhiên chỉ là truyện cổ võ cho một cuộc “Hồi tà.”
Cộng tả và hữu không thể là bài toán cộng của hai anh em ruột.
Cộng tả và hữu không thể là kết quả của một quyết định theo cảm tính sau hành vi thách thức nổ súng.
Cộng tả và hữu không thể là một chuyến “hồi tà” từ hữu về tả.
Cộng tả và hữu không thể đặt căn bản trên những sự việc chỉ có trong giấc mơ : tất cả nhà tù trên thế giới, nhà tù của cộng sản cũng như của tư bản đều dứt khoát không thể cho phép bất kỳ cá nhân nào được mang vũ khí tại phòng nói chuyện với tù. Ðại tá Việt Cộng mang súng vào phòng tù thăm em hiển nhiên là một sự việc hoang đường nhất trong thế giới của những hoang đường.
“Gặp gỡ ngày cuối năm” là một truyện “đầu voi đuôi chuột.” Truyện này đã mở đầu bằng bài toán cộng tả và hữu “để toan tính một cái gì mới mẻ cho quê hương” nhưng lại kết thúc bằng một cuộc làm hòa giữa hai anh em để ngay sau đó người anh dẫn người em đi “hồi tà.” Tính chất “đầu voi đuôi chuột” này là một hệ quả tất nhiên của tình trạng không phân định được hận thù cá nhân và thù hận trong hồn sử, không thấy được đòn bẫy giữa tĩnh và động trong lịch sử quan, không xác định được đâu là bản chất, đâu là hiện tượng của Cộng sản và hoàn toàn không dự kiến được những yếu tố cần có đối với bài toán cộng giữa tả và hữu.
Tóm lại, qua những phần trình bày ở trên, tôi có chủ ý xin được thuyết phục độc giả chấp nhận sự thể rằng "dân tộc Việt Nam hiện nay đang bị dằng co bởi một mâu thuẫn lớn. Mâu thuẫn đó có nội dung như sau : bên này là đòi hỏi của lịch sử về một bài toán cộng, bên kia là những hiểu biết rối loạn đối với phương pháp cộng. Mâu thuẫn giữa cộng và phương pháp cộng là mâu thuẫn chính. Do thái độ tích cực tham dự vào cố gắng giải trừ mâu thuẫn chính, nhiều người đã va chạm lẫn nhau. Trong số “nhiều người” đó có Nhật Tiến và tôi. Tôi gọi va chạm này là mâu thuẫn phụ với hàm ý rằng những gì tôi viết trong bài này nếu bị xem là xúc phạm đến Nhật Tiến thì đó chỉ là những xúc phạm hoàn toàn ngoài ý muốn và vô cùng đáng tiếc. Ðáng tiếc bỡi các lẽ :
- Tôi biết Nhật Tiến là một nhà văn rất tự trọng. Nhật Tiến bao giờ cũng cầm bút bằng tất cả tim óc trong sáng. Ngòi bút của Nhật Tiến không hề một lấn lướt trên mặt giấy theo đòi hỏi của bất kỳ tổ chức chính trị nào.
- Tôi biết Nhật Tiến đã có thật nhiều năm bền chí trên con đường phục hoạt dân sinh. Nhật Tiến là người bạn thân thiết và thương mến nhất của những thuyền nhân khốn khổ. Nhật Tiến cũng không phải là người khách lạ đối với những vị đã ngày đêm tính chuyện trở về quê cũ qua ngõ vượt biển băng rừng.
- Tôi biết Nhật Tiến là một nhà văn đích thực dấn thân. Tuy nhiên tấm lòng của Nhật Tiến đã không được đón tiếp bởi hoàn cảnh nhiễu nhương. Sau khi “tình biếu không” bị từ chối, Nhật Tiến lặng lẽ trở về thư phòng. Có rất nhiều ngày ngồi một mình trong căn phòng cố tình giữ cho thiếu ánh sáng, Nhật Tiến đã suy nghĩ triền miên về bạn bè, về đồng bào và về quê hương... Cuối mỗi lần suy nghĩ triền miên như vậy, Nhật Tiến bao giờ cũng nhận biết một điều thật rõ nét : đó là nỗi cô đơn mênh mông và sâu thẵm...
Những điều “tôi biết” đã kết đọng trong tôi thành lòng tôn kính vững vàng của tôi đối với Nhật Tiến. Chính lòng tôn kính này đã khiến tôi xao xuyến rất nhiều trước khi tôi cầm bút viết về cảm nghĩ của tôi, một độc giả của Nhật Tiến, đối với một truyện ngắn của nhà văn này. Ðiều khó khăn cho tôi là cùng lúc tôi phải trực diện với hai vấn đề gần như đối lập lẫn nhau :
1) Tôi phải tiếp tục giữ lòng tôn kính đối với Nhật Tiến bởi vì Nhật Tiến xứng đáng được tôn kính.
2) Tôi phải tích cực tham dự vào cố gắng giải trừ mâu thuẫn giữa nhu cầu cộng và phương pháp cộng, bởi vì đó là đòi hỏi của lương tri và ái quốc.
Cuối cùng, tôi quyết định mang “Gặp gỡ ngày cuối năm” đặt lên bàn mổ. Tôi đã viết bằng tất cả lòng thành và vốn hiểu biết của tôi. Tôi viết thật thẳng thắng, mạnh mẽ, thật chính xác... Tuy nhiên càng viết quyết liệt bao nhiêu tôi lại càng cảm thấy lòng mình xót xa bấy nhiêu. Ðó là lý do giải thích tại sao tôi gọi bài viết này là “Trận chiến xót xa.”

ÐỖ THÁI NHIÊN