Thursday, August 1, 2013

Tư tưởng Phan Châu Trinh và hiện tình Việt Nam

Đỗ Thái Nhiên

Đối diện với mỗi tình huống của đời sống, con người đều có những suy nghĩ riêng nhằm giúp cho xã hội có được những ứng xử thích nghi. Đó là mối liên hệ giữa tư tưởng và hiện tình của đời sống. Bây giờ chúng ta hãy tìm hiểu tư tưởng Phan Châu Trinh và hiện tình Việt Nam.

Tư tưởng Phan Châu Trinh đã chỉ ra rằng: bất cứ xã hội nào cũng có ba khối vấn đề căn bản: dân sinh, dân trí, dân khí.

Dân sinh Việt Nam.

Dân sinh là hoạt động của guồng máy kinh tế ở mỗi quốc gia. Hoạt động này làm cho đời sống thể chất của người dân đạt mức cân bằng. Như vậy phục vụ người dân là mục tiêu hàng đầu của kinh tế. Thế nhưng trong thực tế, một số tư nhân đã nhân danh “quyền tự do kinh doanh” của cá nhân để sản sinh ra chế độ tư bản tư nhân.  Chế độ này mở đường cho tệ trạng cá lớn nuốt cá bé trên lãnh vực sản xuất và tiêu thụ. Dĩ nhiên đây là một hình thức hoạt động kinh tế phản nhân quyền.
Đảng CSVN đã nhân danh “quyền làm chủ tập thể” của quần chúng nhân dân để thâu tóm toàn bộ tài nguyên quốc gia vào guồng máy kinh tế độc quyền của đảng. Từ đó, chế độ tư bản nhà nước ra đời. Tư bản nhà nước kiểu Cộng SảnViệt Nam độc hại hơn tư bản tư nhân vạn phần ở điểm  đảng viên Cộng Sản Việt Nam hành sử quyền ưu tiên trong kinh doanh với sự hổ trợ tích cực của hệ thống quyền bính do đảng CS tổ chức và điều động. Vụ Vinashin 2006 và các năm kế tiếp gây thiệt hại cho ngân quỹ quốc gia khoảng 4 tỷ Mỹ Kim. Mới đây, 01/2013, qua những tranh cãi giữa Thanh Tra Chính Phủ và ông Văn Hữu Chiến Chủ Tich UBND TP Đà Nẵng, dư luận được biết TP Đà Nẵng và các tỉnh, thành khác thông qua tác vụ “Chuyển nhượng quyền sử dụng đất” đã tham nhũng số tiền nhiều tỷ Mỹ Kim( Báo Thanh Niên 19/01/2013).  Hai vụ tham nhũng vừa nêu chỉ là hai giọt nước trong biển tham ô tại Việt Nam dưới chế độ Cộng Sản.  Tham ô là ác quỷ của dân sinh. Vì vậy , một trong những mục tiêu hàng đầu của tư tưởng Phan Châu Trinh là lời dặn dò: mọi người Việt Nam hãy quyết tâm xây dựng cho người dân một đời sống sung mãn trong no và ấm: HÂỤ DÂN SINH.  Muốn có được hậu dân sinh, người dân Viêt Nam phải đấu tranh đòi hỏi CSVN, một tập thể độc tài và tham ô, phải trả lại quyền điều hành guồng máy quốc gia vốn của nhân dân, về lại với nhân dân.

Dân trí Việt Nam

Có ý kiến cho rằng “hiểu biết là sức mạnh”. Thật vậy, muốn có sức mạnh để diệt trừ tham ô và để xây dựng cuộc dân sinh hạnh phúc, dân trí ( hiểu biết của người dân ) phải được nâng cao. Dân trí gồm hai mặt:

1)Giáo dục đời sống thể chất: Giúp con người có nghề nghiệp để sinh sống tự lập. Đồng thời, nuôi sống gia đình, tiếp tay xây dựng xã hội.

2)Giáo dục đời sống tinh thần: Giúp con người hiểu biết quyền và nghĩa vụ làm người. Đây là lãnh vực giáo dục dân trí mà nhà ái quốc Phan Châu Trinh nhấn mạnh là KHAI DÂN TRÍ . Từ nhiều thập niên qua, do gian ý  bảo vệ ngôi vị độc quyền cai trị đất nước để tự do tham ô và củng cố quyền hành, chế độ CSVN áp dụng chính sách giáo dục hai mặt:

                  Một là giáo dục học đường: sinh viên học sinh được nhồi sọ là phải trung với đảng, hiếu với dân. “Hiếu với dân” chỉ là lời dạy sáo ngữ. Trung với đảng là đảng nói sao, phải  nghe vậy, mọi phản biện đối với đảng đồng nghĩa với  đaị phản động.

                 Hai là giáo dục xã hội: CSVN ngấm ngầm truyền bá loại văn hoá cá nhân hưởng thụ, tiền bạc là trên hết, dối gạt là thông minh. Từ đó con người sống trong xã hội chẳng khác gì con vật sống với bầy, đàn động vật: chỉ biết “chăm sóc cho bộ lông của chính nó”, tương lai của đất nước đã có đảng lo.  Một cách căn bản, đảng có hai điều lo: lo tham ô và lo hạ cánh an toàn.

Dân trí Việt Nam ngày nay là “dân trí bỏ rơi việc nước”. Đối diện với “dân trí ngu dân” kia. Tư tưởng Phan Châu Trinh hô hào “ Khai dân trí ”.  Khai ở đây là mở trí cho người dân để họ hiểu rằng lương tâm làm dân đòi hỏi người dân có bổn phận tích cực tham dự việc nước thông qua cấu trúc chính trị dân chủ đa nguyên.

Dân Khí  Việt Nam

Dân gian thường nói: “ Có thực mới vực được Đạo”.  Đạo ở đây là đạo yêu nước. Thực là dân sinh. Thấy và hiểu được Đạo là dân trí.  Có đủ sức và đủ can trường để “Vực Đạo” hay không, đó là vấn đề dân khí.  Làm thế nào để củng cố và tăng cường dân khí, để chấn dân khí? Những hành động của Phan Châu Trinh trong đấu tranh chánh trị để phục vụ tổ quốc là lời giải đáp cho câu hỏi vừa nêu.

Tại Quảng Nam, mùa hè năm 1906 cùng với hai nhà cách mạng Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp,  trong một lần vận động cho tư tưởng Duy Tân, Phan Châu Trinh đã kêu gọi quần chúng Việt Nam hãy “Tự lực khai hoá”. Lời kêu gọi vừa kể hàm ý: chỉ có người Việt mới yêu thương người Việt, chỉ có người Việt mới có khả năng bảo vệ và phát triển đất nước Việt Nam.

Phan Bội Châu sanh năm 1867. Phan Châu Trinh sanh năm 1872. Cả hai nhà chí sĩ này đều chống Pháp dứt khoát.  Phan Bôi Châu chủ trương chống Pháp bằng hoả lực quân sự.  Phan Châu Trinh chủ trương chống Pháp bằng cách vừa tự lực khai hoá quần  chúng ( hậu dân sinh, khai dân trí, chấn dân khí ) vừa vận dụng mọi tác động của mặt trận văn hoá, chính trị, quốc nội, quốc tế để từng bước một lấy lại độc lập cho Viêt Nam. Mặc dầu khác đường lối đấu tranh nhưng hai chí sĩ họ Phan vẫn giữ lòng thân mến và tương kính, giữa hai người không hề có một tranh cãi phủ định đối phương.  Dị biệt tư tưởng nhưng vẫn chấp nhận lẫn nhau trên lý tưởng độc lập dân tộc.  Đó là chân ý nghĩa của dân chủ đa nguyên.

Phan Châu Trinh vừa chống thực dân Pháp vừa chống những phong tục tập quán tệ hại trong xã hội Việt Nam hồi bấy giờ.  Ông chống kiểu học từ chương, chống mê tín, dị đoan.  Ông kêu gọi học quốc ngữ, cắt tóc ngắn, cắt móng tay… Phan Châu Trinh là nhà cách mạng đấu tranh cho một xã hội Việt Nam văn minh nhân bản.  Phương pháp đấu tranh của Ông có tính can trường, dứt khoát, bền bỉ nhưng tuyệt đối tránh quá khích, tránh vơ đũa cả nắm.

Những suy nghĩ và hành động của Phan Châu Trinh trong nỗ lực chống thực dân Pháp đã cô đọng lại thành lời minh xác rằng: muốn tổ quốc Việt Nam trường tồn và thịnh vượng mỗi cá nhân công dân cần tu học nhiệt tình yêu nước, toàn bộ dân tộc phải bền bỉ xây dựng và phát triển nội lực dân tộc trên nền tảng đoàn kết và tương nhượng của tư tưởng dân chủ đa nguyên.  Đó là dân khí.  Mức độ dân khí tại Việt Nam ngày nay được thẩm định thông qua hai sự kiện:

Một là thái độ “bỏ rơi việc nước” của một thành phần quần chúng. Thái độ này là hậu quả của chủ trương “dân trí ngu dân” của nhà cầm quyền CSVN.

Hai là chính sách “ ác với dân, hèn với giặc” của giới đương quyền Hà Nội.
Các sự kiện nêu trên vừa đẩy dân khí của quần chúng Việt Nam xuống tới mức thấp nhất vừa làm cho đại hoạ Bắc xâm ngày càng tiến gần tới quả tim Việt Nam. Không còn nghi ngờ gì nữa, chấn dân khí là xuất phát điểm tiên khởi của con đường cứu nước. 

Lịch sử loài người đã cho thấy: giới tu sĩ phải mất biết bao công lao và thời giờ cho công cuộc truyền bá một đạo giáo. Dân khí cần được xem trọng như tôn giáo. Mỗi người Việt Nam hãy là một giáo sĩ của đạo DÂN KHí.  Có như vậy dân khí mới thực sự có cơ hội được chấn hưng.

Tóm lại,
Dân sinh Việt Nam hiện bị đè bẹp dưới ách kinh tế quốc doanh tham ô và bóc lột. Guồng máy kinh tế phi nhân này được nguỵ danh dưới tên gọi “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Dân trí Việt Nam hiện bị hôn mê trong văn hoá bầy đàn của động vật:  mỗi con vật chỉ biết và chỉ có khả năng “chăm sóc cho bộ lông của chính nó”. Cha đẻ của loại văn hoá động vật kia chính là đảng CSVN.

Dân khí Viêt Nam hiện đang bị hai tảng đá dân sinh và dân trí như vừa mô tả kéo tuột dốc theo tốc độ ngựa phi.

Làm thế nào người Việt Nam có thể biến phương châm “Hậu dân sinh, Khai dân trí, Chấn dân khí” trở thành hành động sống cụ thể của xã hội?  Câu trả lời nằm ở lương tri ái quốc của mỗi người Việt Nam và ở kho tàng tư tưởng cách mạng của Chí Sĩ Phan Châu Trinh./.

Đỗ Thái Nhiên  (03/2013)

Thursday, January 3, 2013


30 năm sau: kẻ “chiến thắng” xin qui hàng.

                                      ÐỖ THÁI NHIÊN
                                            
           Có thể nói được rằng: mỗi người có một kiểu nhìn riêng đối với Dịch Học. Mỗi người có ngôn ngữ, cú pháp riêng để diễn tả Dịch Học. Thế nhưng, mọi người đều dễ dàng đồng ý với nhau: cuối con đường đi tìm nội dung cốt lõi của Dịch Học, con người sẽ bắt gặp hai chữ:  “PHẢN PHỤC”. Phản phục là qui luật xác định: mọi hiện tượng trên đại vũ trụ đều ẩn tàng trong nó một mầm mống chống lại chính hiện tượng đó.
Trong thái dương có thiếu âm và trong thái âm có thiếu dương. Thiếu âm, thiếu dương là các mầm mống phản phục của thái dương và thái âm. Từ rất xa xưa, ca dao Việt Nam đa khám phá ra hiện tượng phản phục:

                                      “Cười người chớ có cười lâu,
Cười người hôm trước, hôm sau người cười”
(Ca dao Việt Nam)

“Người cười” là mầm phản phục của hịên tượng “cười người”.  Câu hỏi đặt ra:Làm thế nào để con người có thể xác định được mối quan hệ tất yếu giữa lực phản phục và những chuyển mình của lịch sử? Chúng ta hãy đi tìm giải đáp cho câu hỏi vừa nêu bằng cách khảo sát bản chất chính trị của biến cố 30/4/1975 và các mầm mống phản phục của nó.
Như chúng ta đã biết, biến cố 30/4/1975 hiển nhiên là một hồ sơ tràn ngập tội ác. Nổi bật là những tội ác  sau đây:

          -Lợi dụng tình hình chính trị tại Hoa Kỳ gặp khó khăn, CSViệt Nam phản bội hiệp ước Ba Lê 1973, mang quân xâm chiếm toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa.
-CSViệt Nam trả thù quân, dân VNCH bằng cách tống giam hàng trăm ngàn người trong những trại tù khổ sai dưới tên gọi “học tập cải tạo”. Trong toàn bộ lịch sử của loài người, đây là một cuộc tắm máu độc ác nhất, âm thầm nhất, nham hiểm nhất .
-CSViệt Nam cướp đoạt tài sản, nhà cửa của người dân đàng sau tấm bình phong “đánh tư sản mại bản”.
-CSViệt Nam đẩy hàng trăm ngàn người dân Việt Nam xuống đáy biển qua chương trình vượt biên “bán chính thức”. Những nạn nhân của chương trình này phải nộp vàng cho CSViệt Nam để được CS tống xuất ra biển trên những chiếc ghe thiếu hẳn những phương tiện an toàn tối thiểu.
- Hàng triệu người Việt Nam khác do không chịu nổi chế độ hà khắc của CS, đã âm thầm băng rừng, vượt biển đi tìm tự do. Khoảng 40% số người này đã phải trả giá cho hai chữ “tự do” bằng chính sinh mệnh của họ.
-CSViệt Nam xem người dân như những kẻ nô lệ của đảng CS.  Ðảng đã và đang rộn rịp bán nô lệ cho bất kỳ quốc gia nào cần nô lệ. Nô lệ của CSVN được gọi dưới mỹ danh “những người tham gia chương trình xuất khẩu lao động” hoặc “những người thành hôn với người nước ngoài”, đặc biệt là “nước Ðài Loan”.
-Kinh tế thị trường với tất cả kỹ thuật kinh tế và pháp lý tinh vi của nó chắc chắn sẽ đẩy xí nghiệp quốc doanh và đảng CSVN rơi vào tử huyệt. Vì vậy CSVN chỉ giả vờ khoác áo kinh tế thị trường  đủ để lấy lòng giới kinh tế tài chính quốc tế. Trong thực tế, tại Việt Nam, ngày nay đảng CS và tay chân vẫn nắm chặt mọi ưu quyền kinh tế, vẫn cứng rắn bảo vệ guồng máy cầm quyền cực kỳ tham ô, cực kỳ phản văn hóa. Ðây là lý do giải thích tại sao Việt Nam bị các quốc gia lân bang bỏ rơi rất xa trên con đường tiến bộ. Ðây còn là tội ác kinh tế, văn hóa mà CSViệt Nam đã gây ra trên đất nước Việt Nam.
Tất cả những tội ác kể trên đã tạo ra trong tâm khảm của mỗi người dân Việt Nam niềm phẫn uất và ý chí phản kháng hướng về đảng CSViệt Nam. Ðó là cội nguồn của lực phản phục tiềm ẩn bên trong mối quan hệ giữa  người dân và nhà cầm quyền CSViệt Nam.  Chừng nào lực phản phục kia bừng nở thành HOA TỰ DO DÂN CHỦ? Câu trả lời xin được giải bày thông qua ba tình huống sau đây
 
          I.- BANG GIAO VIỆT- HOA.

                                    
      (Nông đức Mạnh Tổng bí thư đảng CSVN hèn hạ cúi đầu)

Việt ở đây là Việt Cộng. Hoa ở đây là Trung Cộng. Ðối với Việt Cộng, quyền thống trị của đảng CSVN là mục tiêu tối thượng. Nhóm chữ “quyền lợi dân tộc” chỉ được CSViệt Nam xử dụng như một khẩu hiệu tuyên truyền trống rỗng và nhàm chán. Ðầu thập niên 1990, sau khi Liên Xô và hệ thống CS thế giới tan vỡ, với ý đồ bám chặt quyền thống trị xã hội Việt Nam, nhóm lãnh đạọ CSVN đã đề nghị Trung Cộng đứng ra làm lãnh tu tối cao của các quốc gia CS còn sống sót , bao gồm: Trung quốc, Việt Nam, Cuba, Bắc Hàn. Trung Cộng lạnh lùng giữ im lặng trước đề nghị nồng nhiệt của CSVN. Những năm kế tiếp, vẫn với ý muốn chấp nhận quì gối trước Trung Cộng để được yên thân ngồi trên ngai vàng Việt Nam, CSVN đã liên tục phục vụ “Thiên triều” bằng các hành động sau đây:

-1999 VC ký thỏa ước nhượng một phần lãnh thổ Việt Nam cho Trung Cộng.
- 2000 VC ký thỏa ước nhượng một phần lãnh hải cho Trung Cộng.
-Ngay sau vụ  nhóm Bin Laden tấn công vào Trung Tâm Thương Mại Quốc Tế Nữu Ước và Ngũ Giác Ðài tại Hoa Thịnh Ðốn ngày 11/09/2001, VC đã cùng Trung Cộng tổ chức biểu tình gọi là “liên hoan ăn mừng chiến thắng”.
-Ngày 12 tháng 9/ 2004, VC ban hành pháp lệnh cho phép người Trung quốc với tư cách du khách (kể cả nhân viên tình báo giả dạng du khách) được quyền tự do di chuyển đến bất cứ nơi nào trên lãnh thổ Việt Nam.
-Ngoài ra, tuân lệnh Trung quốc, VC xây dựng rất nhiều cầu cống (đặc biệt là 11 cây cầu băng qua sông Hồng), phi trường, xa lộ Trường Sơn... Tất cả những phương tiện giao thông vừa kể nhằm giúp cho quân đội Trung quốc dễ dàng tràn về phương Nam Việt Nam trong trường hợp cần thiết.

Trên đây chỉ là một số sự việc trong muôn ngàn sự việc khác cho thấy VC đã phục vụ Trung Cộng bằng tất cả thái độ mẫn cán. Thay vì ban thưởng cho VC, Trung quốc laị lầm lì, công khai và triền miên đánh phá Việt Nam:

-Từ nhiều năm qua, Trung quốc không ngừng đẩy hàng lậu ồ ạt đè bẹp thị trường Việt Nam, làm cho kinh tế Việt Nam vô phương phát triển.
- Hải quân Trung quốc thường xuyên bắn giết ngư phủ Việt Nam nhằm độc chiếm vịnh Bắc Bộ.
-Trung quốc cho người xâm nhập Việt Nam để thu mua móng chân trâu, đuôi trâu với thâm ý giết chết nông nghiệp Việt Nam.
-Một số sông ngòi quan trọng của Việt Nam (đặc biệt là sông Cửu Long) có thượng nguồn từ Trung quốc. Lợi dụng vị thế địa hình vừa kể, Trung quốc không một chút ngần ngại phạm tội ác gây ô nhiễm trầm trọng môi trường sinh sống của người Việt.

Nói chung, Trung quốc không từ bỏ bất kỳ âm mưu hiểm ác nào có tác dụng đẩy đất nước và con người Việt Nam rơi vào hố diệt vong. Sự thể này cho chúng ta thấy: Trung quốc quyết tâm tạo mọi loại sức ép để biến VN thực sự thành một tỉnh của Trung quốc. Sống bên dưới các loại sức ép kia, CSViệt Nam thừa biết hai điều:

-Một là Trung quốc mãi mãi ghi nhớ Việt cộng là một tên tôi tớ phản bội. Phản bội Tàu để chạy theo Nga. Chiến tranh Hoa Việt tháng 2/1979 là vết nhơ không thể tẩy xóa được trong lịch sử bang giao VC và TC.
-Hai là, để trả hận thù cũ, một khi Việt Nam nằm gọn trong vòng tay đô hộ của Bắc xâm, Trung Cộng sẽ không dành đất sống cho VC. Ðó là hai lý do giải thích tại sao ngày nay CSViệt Nam lại phải nỗ lực tìm đường từ giã Bắc Kinh. Sau khi chia tay với Bắc Kinh, CSViệt Nam sẽ đi về đâu? Câu trả lời nằm trên mối bang giao Mỹ-Hoa.
II.- BANG GIAO MỸ- HOA.

Ðầu thập niên 1970 do nhu cầu tách rời Trung quốc ra khỏi Liên Xô, Hoa Kỳ đã tích cực giúp Trung quốc phát triển năng lực quân sự lẫn kinh tế. Ðầu thập niên 1990, Liên Xô và hệ thống CS thế giới tan rã. Bang giao Mỹ Hoa trở nên ngày một xấu đi, điển hình là các sự việc sau đây:

- Tháng 12 năm 1998, Trung quốc ký một hiệp ước hợp tác  quân sự với Taliban.Trong đó có điều khoản: Taliban cam kết chuyển giao cho Trung quốc những đầu đạn hỏa tiễn do Hoa Kỳ bắn vào các căn cứ huấn luyện của Hồi Giáo cựu đoan. Những đầu đạn này vì lý do ky thuật đã không phát nổ. Trung Quốc cần những đầu đạn kia để đánh cắp bí mật quân sự của Mỹ.
- Ngày 08/03/1999 Hoa Kỳ chính thức phản đối Trung quốc về việc Trung quốc đã gài địêp viên Wen Lee Ho vào làm việc tại căn cứ nguyên tử Los Alamos của Hoa Kỳ.
- Trước biến cố ngày 11 tháng 9 năm 2001 không bao lâu, Trung quốc ra lệnh cho cơ quan tuyên huấn của quân đội Trung quốc dịch tác phẩm “Chiến tranh không hạn chế” từ tiếng Hoa ra tiếng  Ả Rập. Bản dịch này nhằm  giúp Bin Laden huấn luyện quân khủng bố một cách tinh vi và hữu hiệu hơn. Tác giả của tác phẩm kia là Kiều Vương và Vương Tương Toại, họ là quân nhân của quân đội Trung quốc.
- Do phát triển kinh tế bừa bãi, thiếu tính toán, guồng máy kinh tế khổng lồ của Trung quốc ngày nay đang phải đối đầu với những khó khăn cực kỳ to lớn: thiếu nước, thiếu nhiên liệu, thiếu điện, lực lượng lao động già nua do chính sách mỗi gia đình một con được áp dụng từ 1979... Nhằm đương đầu với khối khó khăn vừa kể, Trung quốc một mặt xâm lấn các quốc gia lân bang, mặt khác sẵn sàng thực hiện bất kỳ hành động tàn ác nào, miễn là hành động đó đáp ứng được hy vọng cứu nguy nền kinh tế Trung Quốc. Ðó làl ý do giải thích tại sao Trung quốc bảo trợ và buôn bán vũ khí sinh hóa, nguyên tử với Bắc hàn, Iran cùng các quốc gia và tổ chức khủng bố chống Mỹ trên đất Mỹ và trên toàn thế giới. Các hành động vừa nêu chẳng những giúp Trung quốc thâu lợi nhuận mà còn tạo điều kiện để Trung quốc quấy nhiễu Hoa Kỳ. Quấy nhiễu như vậy gây  tác dụng cầm chân Hoa Kỳ ngõ hầu Trung quốc có thể một mình một ngựa tiến chiếm ngôi vị bá chủ hoàn cầu.

Ðối đầu với một Trung quốc ngang ngược và nham hiểm, Hoa Kỳ không thể không nghĩ đến một chính sách ngoại giao riêng dành cho Trung Quốc. Sự kiện Hoa Kỳ đón tiếp thủ tướng CSViệt Nam Phan Văn Khải là chỉ dấu  rõ ràng nhất cho thấy những toan tính mới của Mỹ hướng về Hoa .
III.- BANG GIAO MỸ - VIET.

                                      
            Sau một thời gian đương đầu với khủng bố, Hoa Kỳ nhận biết rằng các chế độ độc tài áp bức chính là cha đẻ của nạn khủng bố quốc tế, và rằng chỉ có chế độ dân chủ chân chính mới có khả năng giải trừ được tận gốc rễ các tệ nạn: độc tài, tham ô, buôn lậu, khủng bố...Vì vậy, trong bài diễn văn nhậm chức nhiệm kỳ II, Tổng Thống George W Bush khẳng định: “Sự tồn tại của nền tự do tại Hoa Kỳ ngày càng lệ thuộc vào kết quả tự do tại các quốc gia khác. Hy vọng tốt nhất cho nền hòa bình trong thế giới của chúng ta là sự phát triển tự do trên toàn cầu”.
Nhằm khẳng định quyết tâm dân chủ hóa toàn cầu, Tổng Thống George W Bush đưa ra hai thông điệp:

-Thứ nhất: Nói với các nhà cầm quyền độc tài áp bức: “ Những lãnh tụ của các chính quyền có thói quen cai trị lâu năm cần biết rằng: để phục vụ nhân dân, quý vị phải học đặt niềm tin nơi nhân dân của quý vị. Hãy bắt đầu con đường tiến bộ và công bằng thì Hoa Kỳ sẽ đi bên cạnh quý vị.”
-Thứ hai: nói với những người đấu tranh cho tự do, dân chủ: “ Những người cách mạng dân chủ gặp phải cảnh bắt bớ, đàn áp, tù đày hoặc lưu vong, xin quý bạn có thể hiểu rằng: Hoa Kỳ nhìn thấy quý bạn là ai: là những lãnh tụ tương lai trên quốc gia tự do của quý bạn.”

Mục tiêu quan trọng hàng đầu của chương trình dân chủ hóa toàn cầu do Hoa Kỳ phát động chính là Trung Quốc. Muốn vậy, Hiệp Chủng Quốc phải ưu tiên vô hiệu hóa những mưu toan quấy phá an ninh quốc tế của Trung quốc. Từ kế hoạch vô hiệu hóa vừa kể, Hoa Kỳ chọn CSViệt Nam như một đồng minh thân cận, kiểu Pakistan. Nếu Pakistan có chung biên giới với Iran và Afghanistan thì Việt Nam có chung biên giới với Trung quốc. Ðó là lý do giải thích tại sao ngày 3 tháng 2 năm 2005, từ San Francisco trong một bài thuyết trình in sẵn, ông Michael W Marine, đương kim Ðại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, long trọng xác nhận: “ Hoa Kỳ tôn trọng chủ quyền, sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và kiên quyết chống lại bất cứ nỗ lực nào nhằm chia rẽ hay gây rối biên giới của Việt Nam. Trái lại, chúng ta có lợi ích chung trong việc bảo đảm an ninh khu vực và trên thế giới. Mối quan hệ hợp t ác trên lãnh vực quốc phòng hiện nay của chúng ta là những bước đi đầu tiên nhằm tìm ra một phương cách phù hợp để cả hai nước có thể cùng nhau đối phó với những thách thức an ninh trong thế kỷ 21.”

Ðể củng cố lòng tin tưởng của người Mỹ và người Việt đối với chính sách ngoại giao mới trong bang giao Việt Mỹ, Ðại Sứ Michael W Marine nhấn mạnh: “ Mặc dầu cả hai quốc gia chúng ta đã có lịch sử không thuận hợp, song một sự kiện rõ ràng là cả Việt Nam lẫn Hoa Kỳ hiện không có dị biệt nào về mặt chiến lược.”
Không còn nghi ngờ gì nữa, CSViệt Nam cần chạy trốn hiểm họa Bắc thuộc lần thứ tư. Hoa Kỳ cần một đồng minh cản bước tiến của Trung quốc. Hai cái “cần” vừa kể cộng lại với nhau tạo thành bang giao Việt Mỹ 2005. Sự có mặt của Thủ Tướng Phan Văn Khải tại Hoa Kỳ vào tháng 6 năm 2005 là dấu hiệu mở đầu công cuộc đổi chủ của CSViệt Nam. Từ chủ Tầu, VC chạy qua chủ Mỹ. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, lợi dụng bàn cờ chính trị quốc tế, VC tự nhận mình là kẻ chiến thắng và gọi Mỹ là kẻ chiến bại. Ba mươi năm sau: 30/4/2005 cũng chính bàn cờ chính trị quốc tế đã buộc CSViệt Nam phải quy phục Hoa Kỳ. Quyết định quy hàng của CSViệt Nam đã đẩy chế độ độc tài này đối diện với hai giai đoạn lịch sử:

- Giai đoạn I: còn gọi là giai đoạn trăng mật giữa Mỹ và VC. Tại gia đoạn này có thể Hoa Ky đáp ứng một số yêu sách của CSViệt Nam về kinh tế cũng như về nhu cầu tăng cường sức mạnh quân sự.
-Giai đoạn II: đây là giai đoạn CSViệt Nam phải đồng loạt nhận lãnh hai loại áp lực:

                + Áp lực từ phía chính phủ Mỹ: muốn thi hành hữu hiệu vai trò lá chắn đối với Trung quốc, CSViệt Nam phải là một nhà cầm quỳên không tham ô, luật pháp phải tinh vi và khoa học. Nói ngắn và gọn, CSViệt Nam phải dân chủ hóa theo đúng chủ trương đã được xác định trong bài diễn văn nhậm chức tổng thống nhiệm kỳ II của ông George W Bush.
                + Áp lực từ phía nhân dân Hoa Ky ø(đặc biệt là người Mỹ gốc Việt): tại Hoa Kỳ dầu là Dân Chủ hay Cộng Hòa, không thể có nhà cầm quyền nào dám coi thường lá phiếu của người dân bằng cách dùng đồng tiền thuế của người dân để nuôi dưỡng dài hạn một chế độ độc tài và tham ô kiểu CSViệt Nam. Vì vậy bang giao Việt Mỹ hiểu theo nghĩa Việt Nam là Pakistan tại Ðông Nam Á, chắc chắn sẽ bị cử tri Hoa Kỳ gây áp lực nặng nề, nhằm buộc Mỹ phải dân chủ hóa Việt Nam, với tốc độ làm chóng mặt chế độ độc tài. Sỡ dĩ vị trí của người Mỹ gốc Việt trên địa bàn áp lực chính trị tại Mỹ được bài viết này nhấn mạnh là vì đó là một thực tế chính tri mà Hà Nội không thể chối bỏ. Ngày 17/04/2005 trên báo Thanh Niên của CSViệt Nam chính Lê văn Bàng thứ trưởng bộ ngoại giao của Ha Nội đã phải xác nhận:” Vai trò của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ trong mối quan hệ giữa Hoa Thịnh Ðốn và Hà Nội là rất quan trọng.”

Dưới cả hai loại áp lực kể trên, CSViệt Nam không thể không quy hàng thể chế tự do dân chủ. Ðó là chân ý nghĩa của bài viết: 30 năm sau, kẻ chiến thắng xin quy hàng. Ðó còn là sức mạnh hiển nhiên của lực phản phục được diễn tả bằng những chuyển mình của lịch sử.

                                                                       ÐỖ THÁI NHIÊN
     Tặng và lưu ý cho vợ chồng tên Việt gian Nguyễn phương Hùng
              
 
Nguyễn Phương Hùng cúi đầu, khom lưng     Hai tên Mỹ gian phản quốc Julius và                  
hèn hạ trước tên chủ Nguyễn Thanh Sơn,       Ethel Rosenberg, bị tử hình vào ngày                                                                                
 thứ trưởng ngoại giao việt cộng                     19 tháng 6-1953 vì tội làm gián điệp
                                                                           ăn cắp bí mật vũ khí bom nguyên tử,                
                                                                          bán cho Liên sô


Saturday, December 15, 2012



Tấm lòng kính gởi chị Ỷ Lan
 
                                                                       Tống phước Hiến
 
            
 
Viết để kính tặng chị Ỷ-Lan (Tức Penelop Faulker) Phó Chủ-tịch Ủy Ban Bảo-Vệ Quyền Làm Người Việt-Nam tại Paris.                               
                       *
 
Rất tình cờ, sững sờ nghe chị nói,
Giọng thiết tha, thương Dân Việt, thẫn thờ.
Theo làn sóng, máu chị rung ngấn lệ,
Tôi bồi hồi, nghe mật rót, ngẩn ngơ.
                        *
Tiếng Ai đó, từ phương xa, xa thẳm,
Thấm nghĩa tình, như tiếng hát gọi đàn.
Tiếng chị nói từ trời Anh-Cát-Lợi,
Mà nghe sao, gần gủi, quá nồng nàn.
                       *
Rồi từ đó, mang niềm mơ tri ngộ,
Ơn của Người, ơn tri kỷ chung lòng.
Non Nước ơi, oai linh xưa Tiên Tổ,
Hãy cao lời, cho trăm nhánh chung giòng.
                       *
Như Dân Việt, chị hiểu về Nước Việt,
Tiếng Việt-Nam, thành mạch máu nuôi thân.
Yêu Ðất Việt, chị thở bằng tiếng Việt,
Thương Quê-Hương, lòng trinh sạch vô ngần.
                       *
Ðường lưu lạc, chợt nhớ lời chị nói,
Tủi phận mình, tài mọn, sức yếu hèn.
Cũng có lúc, nuôi giấc mơ Phù-Ðổng,
Cùng roi thần, ngựa sắt diệt tà đen.
                       *
Tôi đã gặp, cũng nhiều trang Tuấn-Kiệt,
Mài Gươm Thiêng, đâu quản ngại đêm ngày
Lịch sử  giống giòng thêm lần lập lại,
Ỷ-Lan xưa, có phải Ỷ-Lan nầy!
 
                       *
                         Kính phục chị, vì tấm lòng cao cả,
  Lòng xót đau, thương dân Việt uất sầu.
  Chị đã quyết, khướt từ hoa với mộng,
  Trải tấm lòng, góp sức đốt đêm thâu.
                                 *
          Hỡi những kẻ, chung giống nòi Việt tộc,
 Sao đành tâm, ngoảnh mặt với Quê-Hương!
 Tại sao nở theo chân phường bạc ác,
 Vì lợi danh, đành bán rẻ cương thường!
                        *
 Và phải chăng, có những Người yêu Nước,
 Tình Quê-Hương chất chứa vạn niềm mơ.
 Nên họ đã, tung mình bay tứ xứ,
 Chờ hồi sinh, cùng quay lại bến bờ.
                         *
  Bởi có phải, từ xa xưa tiền kiếp,
  Chị là Hương, là Sắc giống Tiên Long.
  Ðã đoán trước, ngày Non Sông máu lệ,
  Tìm cơ duyên, tạo muôn hướng chung lòng.
                          *
  Rồi mai đây, nắng Vàng sơn Quê Mẹ,
  Vạn loài hoa, về lại mái nhà xưa.
  Ta xây lại trên hoang tàn đổ nát,
  Hát tiếp Ca dao, nhịp võng đẩy đưa.
                           *
  Trong tim tôi, dọc ngang nhiều đại lộ,
   Mỗi con đường, một kỹ niệm chứa chan.
   Ngày Nước Việt vượt qua muôn hiểm nạn
   Chị sẽ về chung tiếng hát họp đàn
      
 
Tống phước Hiến
 
___________________________________
Vua Lý-Thánh-Tôn gần 40 tuổi mà chưa có con,  đến chùa cầu tự Gặp được người con gái có nhan sắc tuyệt trần, đứng dựa vào khóm lan. Vua triệu về cung phong làm Nguyên Phi Ỷ Lan (dựa vào khóm lan) Sau bà  sinh ra vua Lý Nhân Tôn. Bà giúp vua trị quốc. Triều đại nhà Lý hưng thịnh có một phần do tài đức của bà
 
                                                    ---------------------------------
 BRUXELLES, Bỉ (QM) - Trước phân ban nhân quyền của Quốc Hội Châu Âu, đại diện một tổ chức bảo vệ nhân quyền Việt Nam lên tiếng hôm Thứ Năm tố cáo Việt Nam đàn áp Phật Giáo và ngăn cản hoạt động của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
        “GHPGVNTN là cộng đồng tôn giáo lớn nhất và lâu đời nhất bị hệ thống Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước do đảng Cộng Sản dựng lên nhằm kiểm soát và sử dụng,” bà Penelope Faulkner, phó chủ tịch Quê Mẹ - Hành Ðộng Cho Dân Chủ Việt Nam kiêm phó chủ tịch Ủy Ban Bảo Vệ Quyền Làm Người Việt Nam, điều trần.
       “Các tăng, ni, Phật tử bị bắt giam, hăm dọa, sách nhiễu,” bà Faulkner nói thêm. “Những ai liên hệ với các chùa thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đều có nguy cơ bị đàn áp, khủng bố”.
       Cuộc điều trần do bà Heidi Hautala, chủ tịch Phân ban Nhân quyền Quốc Hội Châu Âu, và ông Geoffroy Harris, chủ tọa.
        Bà Penelope Faulkner cho biết mặc dù đạo Phật là đạo khoan dung, hòa bình, nhưng “Phật Giáo đồ trong nhiều nước Á Châu bị đàn áp và kỳ thị vì tín ngưỡng bất bạo động của họ. Tại Việt Nam, nhà cầm quyền Cộng Sản không cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) hoạt động tôn giáo.”
        Bà Penelope Faulkner cho Quốc Hội Châu Âu biết rằng “chỉ vài ngày trước đây thôi, trong dịp Phật Ðản, nhà cầm quyền đã mở cuộc đàn áp lớn rộng tại các chùa thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, ngăn cản đại lễ và sách nhiễu Phật tử. Công an đã ngăn cấm Phật tử đến chùa Giác Minh ở Ðà Nẵng dự lễ Phật Ðản, không cho chư tăng tuyên đọc thông điệp Phật Ðản của Ðại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ, vị lãnh đạo tối cao Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, và cũng là người được thế giới đề cử giải Nobel Hòa Bình, và hiện nay ngài bị quản thúc tại Thanh Minh Thiền Viện ở Saigon sau bao thập niên bị tù đày chỉ vì ngài ôn hòa đòi hỏi cho tự do tôn giáo và nhân quyền”.
        Bà Penelope Faulkner cũng nhắc đến những cuộc đàn áp đối với các cộng đồng tôn giáo khác tại Việt Nam. Bà đưa ra trường hợp công an thẳng tay đàn áp và bắn chết người H'mong biểu tình đòi hỏi tự do tôn giáo và cải cách đất đai trên miền thượng du phía Bắc ở tỉnh Ðiện Biên trong tháng 5 này. 18 người bị công an giết và hàng trăm người bị thương, kể cả thiếu nhi. Bà cũng đưa ra con số 300 người Thượng Tây Nguyên còn bị giam giữ vì tham gia biểu tình đòi hỏi đất đai và tự do tín ngưỡng. 
                                    *****************************
        Một Nữ sĩ người Anh nói tiếng Việt lưu loát và biết rất rõ về nền văn hóa VN, thật đáng bái phục và kính nể vì Cô Ỷ Lan còn biết rất nhiều về nền văn hóa và sử-học của VN!


Monday, December 3, 2012

Nhân Quyền và Cơ Cấu của Hạnh Phúc

                                                                                Đỗ Thái Nhiên

          Hạnh phúc là gì? Nói tới hạnh phúc, người ta thường nghĩ tới nhóm chữ: Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc. Ba thuật ngữ vừa kể là ba mặt của một khối tam giác đều. Thiếu đi một mặt, khối tam giác biến mất. 
          Độc lập là lời khẳng định: "Xin đừng ai chạm tới tôi”.  Để thể hiện độc lập, con người cần tự do, muốn làm gì thì làm. Độc lâp và tự do là đôi cánh của hạnh phúc. Tuy nhiên, hạnh phúc là hạnh phúc trong  xã hội và với xã hội. Không có xã hội, không thể có hạnh phúc. Vì vậy hạnh phúc của một người phải “hợp tấu” với hạnh phúc của muôn người. Đó là “mạng lưới” của hạnh phúc.

Thế nào là cơ cấu của hạnh phúc?

           Nhằm giúp cho ý niệm “cơ cấu của hạnh phúc” trở nên cụ thể và dễ hiểu, trước tiên, chúng ta hãy nghĩ tới cơ cấu của mạng lưới giao thông trên các xa lộ. Muốn cho mạng lưới này được vận hành ổn định:

1) Đường xá, cầu cống phải kiến tạo vững chắc và an toàn.
2) Luật lệ giao thông cần qui định với những tiên liệu đầy đủ chi tiết, hợp lý và nghiêm minh.
 3) Tài xế lái xe đủ sức khoẻ, có bằng lái xe hợp pháp.
4) Các loại xe lăn bánh trên xa lộ cần đạt mức toàn hảo về mặt cơ khí. Bốn thành tố vừa nêu tạo thành cơ cấu của mạng lưới giao thông.  Bây giờ hãy nói tới cơ cấu của hạnh phúc. 

           Không thể có loại hạnh phúc của cá nhân sống đơn độc trên núi lạnh, trong rừng sâu. Đời người chỉ ổn định chừng nào hạnh phúc cá nhân và hạnh phúc xã hội thường hằng giao thoa nhưng cũng thường hằng không va chạm, không xâm lấn lẫn nhau. Làm thế nào có được hai cái “thường hằng” kia? Trả lời câu hỏi này, con người đứng trước bức tranh cơ cấu của hạnh phúc. Mạng lưới hạnh phúc là mối liên hệ song phương và xoay chiều giữa hạnh phúc cá nhân và hạnh phúc xã hội nhìn một cách tổng quát. Đó là tranh sơ phác của hạnh phúc. Chi tiết hoá tranh sơ phác để nhận ra những cơ phận tinh vi giúp cho hạnh phúc cá nhân và hạnh phúc xã hội có khả năng hợp tấu. Đó là tranh chân dung của hạnh phúc, còn gọi là cơ cấu của hạnh phúc. Bảo vệ sự ổn định cho cơ cấu của hạnh phúc là đối tượng tối cao mà vận động của xã hội nhằm đạt tới. Muốn vậy, xã hội phải nhờ tới bàn tay của luật pháp: “ở đâu có xã hội, ở đó có luật pháp”.  Luật pháp là công cụ duy nhất hữu hiệu trong việc điều hành dòng sống của xã hội, điều hành cơ cấu của hạnh phúc.

          Trước khi có luật pháp, xã hội loài người đã có tâm lý yêu chuộng công bằng và lẽ phải, đã có phong tục, tập quán.  Như vậy, phong tục tập quán là hình chụp cơ cấu của hạnh phúc. Một cách căn bản nhất, luật pháp chính là phong tục tập quán được pháp lý hoá. Nhìn thực trạng xã hội, con người hình dung được luật pháp. Ngược lại, đọc luật pháp, con người thấy được thực trạng xã hội. Năm 1993 tại Vienna, Aó quốc, 170 quốc gia cùng với 1000 tổ chức phi chính phủ (NGO) đã cùng nhau biểu quyết: luật quốc tế nhân quyền bao gồm Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền 1948 và hai Công ước Quốc Tế Nhân Quyền về Dân Sự-Chính Trị và về Kinh Tế-Xã Hội 1966. Bài viết này xin chọn Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền 1948 như một văn kiện nhân quyền căn bản để đặt câu hỏi: Bằng cách nào luật quốc tế nhân quyền tổ chức và điều hành cơ cấu của hạnh phúc cho từng cá nhân và cho toàn xã hội?
           Luật quốc tế nhân quyền bao gồm 30 (ba mươi) điều khoản đã truyền đi hai loại mệnh lệnh: lệnh cấm làm và lệnh buộc phải làm. Mặt khác, khi tuyên xưng Quyền sống tự do và bình đẳng của con người (điều 1), Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền mặc nhiên đòi hỏi mỗi người có Nghĩa Vụ phải tôn trọng quyền sống tự do và bình đẳng của những người chung quanh. Với “nội dung kép” như vừa trình bày, mặc dầu mang tên gọi là Tuyên Ngôn Nhân Quyền nhưng trong thực chất, văn kiện pháp lý này có hàm ý đồng loạt minh xác nghĩa-vụ-làm-người và quyền-làm-người.
          Với văn thức hai loại mệnh lệnh, với nội dung kép, với sự đồng thuận mạnh mẽ của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền 1948 đã nêu bật bốn thành tố sau đây trong bức tranh cơ cấu của hạnh phúc:

1) Nghĩa vụ làm người:

Đã là con người, một cách bẩm sinh, ai cũng muốn thực thi nghĩa vụ làm người, đó là sự thể hiện nhân cách. Vì vậy điều (1) Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (TNQTNQ) xác định: “ Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi, có lý trí và lương tri và phải đối xử với nhau trong tình bác ái”. Phẩm cách của con người chẳng là gì khác hơn là nỗ lực liên tục và bền bỉ thượng tôn nhân tính của chính mình và của những người chung quanh. Thông qua lý luận của triết học chọn con người làm tiền đề và nhất là thông qua những ghi nhận thực tại đời người lấy ra từ Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, nhân tính gồm bốn yếu tính:

           -Tính thứ nhất là tính  xây dựng và sống với gia đình: Nam nữ trung thành song phương và bình đẳng trên mọi lãnh vực của đời sống. Điều (16) TNQTNQ: “ (a) Đến tuổi thành hôn, thanh niên nam nữ có quyền kết hôn và lập gia đình mà không bị ngăn cấm vì lý do chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. Họ có quyền bình đẳng khi kết hôn, trong thời gian hôn thú cũng như khi ly hôn. (b) Hôn thú chỉ có giá trị nếu có sự thuận tình hoàn toàn tự do của những người kết hôn. c) Gia đình là đơn vị tự nhiên và căn bản của xã hội và phải được xã hội và quốc gia bảo vệ.”

          -Tính thứ hai là tính tự vệ: Khi quyền sống bị xâm phạm, con người không được phép tự ý sử dụng bạo lực để trả đủa. Mọi tranh chấp phải giải quyết bằng thương nghị hoà bình hoặc nhờ sự phân xử của toà án. Điều (8): “ Ai cũng có quyền yêu cầu toà án quốc gia có thẩm quyền can thiệp chống lại những hành động vi phạm những quyền căn bản được hiến pháp và luật pháp thừa nhận”

          -Tính thứ ba là tính thoả mãn nhu yếu: Mỗi người phải tôn trọng quyền bình đẳng về cơ hội ( không bị chèn ép, không bị đối xử bất công) trong hoạt động kinh tế của mọi người. Điều (22): “ Với tư cách là một thành viên của xã hội, ai cũng có quyền hưởng an sinh xã hội, cũng như có quyền đòi được hưởng những quyền kinh tế, xã hội và văn hoá cần thiết cho nhân phẩm và sự tự do phát huy cá nhân của mình, nhờ những nỗ lực quốc gia, sự hợp tác quốc tế, và theo cách tổ chức cùng tài nguyên của quốc gia.”

          -Tính thứ tư là tính xã hội: Cá nhân hưởng những tiện ích do xã hội cung ứng. Đáp lại cá nhân có nghĩa vụ hợp tác với xã hội để xây dựng và phát triển xã hội.      Điều (21):  “ (a) Ai cũng có quyền tham gia chính quyền của quốc gia mình, hoặc trực tiếp hoặc do các đại biểu do mình tự do lựa chọn.(b) Ai cũng có quyền bình đẳng tham gia công vụ trong nước.”

2) Quyền làm người.

          Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con cái, đương nhiên cha mẹ có quyền quở phạt con cái. Quyền là công cụ giúp con người thực thi nghĩa vụ. Quyền và nghĩa vụ là hai mặt của một bàn tay. Như đã trình bày ở trên, nghĩa vụ làm người có tính bẩm sinh, ai cũng như ai. Vì vậy, không phân biệt chủng tộc, màu da, tuổi tác, giới tính, tôn giáo, chính kiến… mọi người đều có quyền làm người như nhau. Tuy nhiên, chế độ độc tài các loại do âm mưu toàn trị để dễ bề tham ô đã viện dẫn các lý do khác nhau nhằm thủ tiêu nhân quyền của người dân. Lý do rằng: Mỗi dân tộc có một nền văn hoá riêng, cần được giải thích nhân quyền theo nghĩa riêng và rằng tuyên ngôn quốc tế nhân quyền là sản phẩm tư tưởng của các nước phương Tây, nó có tính đề cao cá nhân chủ nghĩa, điều này không phù hợp với công việc tổ chức và điều hành xã hội phương Đông. Dĩ nhiên các luận điểm vừa nêu hoàn toàn vô căn cứ, không có dẫn chứng cụ thể và khoa học.

          Xin chớ quên rằng: thủ tiêu quyền làm người đồng nghĩa với hành động ngăn cản con người thực thi nghĩa vụ làm người, nghĩa vụ thượng tôn nhân tính. Sự thể này sẽ nhanh chóng biến quan hệ giữa con người với con người trở thành quan hệ giữa động vật này với động vật kia, quan hệ mạnh được yếu thua, quan hệ “mắt đổi mắt, răng đổi răng”. Lúc bấy giờ nhà cầm quyền độc tài sẽ viện lý do dân trí thấp, lý do “an ninh trật tự công cộng là nhu cầu sống còn của xã hội” để biến xã hội loài người thành một chuồng động vật đặt dưới quyền khống chế cực kỳ hà khắc của guồng máy công an trị.

3)Văn hoá nhân văn.

          Trong trường hợp nhân quyền được tôn trọng toàn phần, nhân tính được thượng tôn: gia đình hạnh phúc, kinh tế vận hành trên nguyên tắc bình đẳng cơ hội, mọi va chạm đều được giải quyết trong thương nghị hoà bình, cá nhân hợp tác hoà hài với xã hội. Do nhân tính được thượng tôn, do lòng thương yêu và tôn kính lẫn nhau, người dân tự giác tôn trọng luật pháp của quốc gia. An ninh trật tự xã hội được vận hành trên tinh thần tự giác của người dân là chân ý nghĩa của thiên hạ thái bình. Xã hội thái bình là môi trường cần yếu giúp văn hoá nhân văn thăng hoa.

4) Dân chủ nhân quyền.

          Nghĩa vụ làm người là nghĩa vụ bẩm sinh của người dân. Nhân quyền vừa là quyền bẩm sinh của người dân vừa là công cụ giúp người dân thực thi nghĩa vụ làm người. Văn hoá nhân văn thăng hoa là công trình được vươn lên từ tim óc của người dân. Do ba sự kiện “của người dân” vừa nêu, chế độ chính trị điều hành đời sống của quốc gia hiển nhiên phải là chế độ do dân làm chủ. Dân chủ  ở đây chắc chắn không là “ dân chủ tập trung” kiểu Cộng Sản, dân chủ “đảng cử, dân bầu”. Dân chủ ở đây là dân chủ tam quyền phân lập, trong đó mọi thao tác dân chủ đều được giải thích minh bạch thông qua sự viện dẫn nghiêm chỉnh từng điều khoản của bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền ngày 10/12/1948. Điều (21) khoản (c) TNQTNQ minh xác: “Ý nguyện của quốc dân phải được coi là căn bản của mọi quyền lực quốc gia, ý nguyện này phải được biểu lộ qua những cuộc tuyển cử có định kỳ và trung thực, theo phương pháp phổ thông đầu phiếu kín, hay theo các thủ tục tuyển cử tự do tương tự”.

          Điều 21, khoản (c) vừa trích dẫn: dân chủ đích thực là phương pháp luận của nhân quyền. Dân chủ biến tư tưởng nhân quyền thành hành động sống cụ thể. Không có dân chủ, không thể có nhân quyền. 


Kết luận.

           Nhân quyền không hề là một tài liệu đề cao cá nhân chủ nghĩa. Nhân quyền là sản phẩm tư tưởng được hợp soạn và/hoặc được nhìn nhận bởi toàn bộ xã hội quốc tế văn minh. Nhân quyền không mảy may gây tác hại cho an ninh trật tự xã hội như các chế độ độc tài xuyên tạc. Ngược lại chính nhân quyền đã sản sinh ra môi trường an ninh trật tự tự giác bằng cách cung cấp cho xã hội lớp người thượng tôn nhân tính, lớp người tự giác. Kỷ luật hoàn toàn dựa vào sự canh chừng của cảnh sát là loại kỷ luật của những xã hội chưa trưởng thành. Xã hội vận hành trong trật tự không vì tâm lý khiếp sợ công an và toà án mà vì tính tự giác của con người, đó là xã hội văn minh thượng đẳng.

          Mãi cho tới đầu thế kỷ 21 nhân quyền vẫn chỉ là ước mơ chưa thành của loài người. Tuy nhiên, nhân quyền không thể đơn phương vận động và phát triển. Nhân quyền phải gắn bó chặt chẽ với một hạch tâm gồm bốn “điện tử”: nghĩa vụ làm người + quyền làm người + văn hoá nhân văn + dân chủ nhân quyền. Nhân của hạch tâm là hạnh phúc của con người. Bốn điện tử kia không điện tử nào được xem là lãnh đạo . Không điện tử nào có khả năng tồn tại bên ngoài hạch tâm. Cả bốn điện tử đều phải hổ tương tác động để cùng nhau vận động và phát triển, cùng nhau lấy hạnh phúc của đời người làm đối tượng để phục vụ. Hạch tâm vừa mô tả được gọi là cơ cấu của hạnh phúc. Có thấy được và hiểu được cơ cấu của hạnh phúc, con người mới có cơ hội và khả năng để cùng nhau thực hiện giấc mơ  hạnh phúc: hạnh phúc cho xã hội và cho chính mình. Ý chí biến giấc mơ hạnh phúc trở thành hiện tượng sống cụ thể của đời người chính là lời chúc hạnh phúc mà bài viết này xin trân trọng kính gửi tới mỗi Quý Độc Giả nhân dịp kỷ niệm ngày Quốc Tế Nhân Quyền 10/12/2012 ./.

Đỗ Thái Nhiên