Thursday, January 3, 2013


30 năm sau: kẻ “chiến thắng” xin qui hàng.

                                      ÐỖ THÁI NHIÊN
                                            
           Có thể nói được rằng: mỗi người có một kiểu nhìn riêng đối với Dịch Học. Mỗi người có ngôn ngữ, cú pháp riêng để diễn tả Dịch Học. Thế nhưng, mọi người đều dễ dàng đồng ý với nhau: cuối con đường đi tìm nội dung cốt lõi của Dịch Học, con người sẽ bắt gặp hai chữ:  “PHẢN PHỤC”. Phản phục là qui luật xác định: mọi hiện tượng trên đại vũ trụ đều ẩn tàng trong nó một mầm mống chống lại chính hiện tượng đó.
Trong thái dương có thiếu âm và trong thái âm có thiếu dương. Thiếu âm, thiếu dương là các mầm mống phản phục của thái dương và thái âm. Từ rất xa xưa, ca dao Việt Nam đa khám phá ra hiện tượng phản phục:

                                      “Cười người chớ có cười lâu,
Cười người hôm trước, hôm sau người cười”
(Ca dao Việt Nam)

“Người cười” là mầm phản phục của hịên tượng “cười người”.  Câu hỏi đặt ra:Làm thế nào để con người có thể xác định được mối quan hệ tất yếu giữa lực phản phục và những chuyển mình của lịch sử? Chúng ta hãy đi tìm giải đáp cho câu hỏi vừa nêu bằng cách khảo sát bản chất chính trị của biến cố 30/4/1975 và các mầm mống phản phục của nó.
Như chúng ta đã biết, biến cố 30/4/1975 hiển nhiên là một hồ sơ tràn ngập tội ác. Nổi bật là những tội ác  sau đây:

          -Lợi dụng tình hình chính trị tại Hoa Kỳ gặp khó khăn, CSViệt Nam phản bội hiệp ước Ba Lê 1973, mang quân xâm chiếm toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa.
-CSViệt Nam trả thù quân, dân VNCH bằng cách tống giam hàng trăm ngàn người trong những trại tù khổ sai dưới tên gọi “học tập cải tạo”. Trong toàn bộ lịch sử của loài người, đây là một cuộc tắm máu độc ác nhất, âm thầm nhất, nham hiểm nhất .
-CSViệt Nam cướp đoạt tài sản, nhà cửa của người dân đàng sau tấm bình phong “đánh tư sản mại bản”.
-CSViệt Nam đẩy hàng trăm ngàn người dân Việt Nam xuống đáy biển qua chương trình vượt biên “bán chính thức”. Những nạn nhân của chương trình này phải nộp vàng cho CSViệt Nam để được CS tống xuất ra biển trên những chiếc ghe thiếu hẳn những phương tiện an toàn tối thiểu.
- Hàng triệu người Việt Nam khác do không chịu nổi chế độ hà khắc của CS, đã âm thầm băng rừng, vượt biển đi tìm tự do. Khoảng 40% số người này đã phải trả giá cho hai chữ “tự do” bằng chính sinh mệnh của họ.
-CSViệt Nam xem người dân như những kẻ nô lệ của đảng CS.  Ðảng đã và đang rộn rịp bán nô lệ cho bất kỳ quốc gia nào cần nô lệ. Nô lệ của CSVN được gọi dưới mỹ danh “những người tham gia chương trình xuất khẩu lao động” hoặc “những người thành hôn với người nước ngoài”, đặc biệt là “nước Ðài Loan”.
-Kinh tế thị trường với tất cả kỹ thuật kinh tế và pháp lý tinh vi của nó chắc chắn sẽ đẩy xí nghiệp quốc doanh và đảng CSVN rơi vào tử huyệt. Vì vậy CSVN chỉ giả vờ khoác áo kinh tế thị trường  đủ để lấy lòng giới kinh tế tài chính quốc tế. Trong thực tế, tại Việt Nam, ngày nay đảng CS và tay chân vẫn nắm chặt mọi ưu quyền kinh tế, vẫn cứng rắn bảo vệ guồng máy cầm quyền cực kỳ tham ô, cực kỳ phản văn hóa. Ðây là lý do giải thích tại sao Việt Nam bị các quốc gia lân bang bỏ rơi rất xa trên con đường tiến bộ. Ðây còn là tội ác kinh tế, văn hóa mà CSViệt Nam đã gây ra trên đất nước Việt Nam.
Tất cả những tội ác kể trên đã tạo ra trong tâm khảm của mỗi người dân Việt Nam niềm phẫn uất và ý chí phản kháng hướng về đảng CSViệt Nam. Ðó là cội nguồn của lực phản phục tiềm ẩn bên trong mối quan hệ giữa  người dân và nhà cầm quyền CSViệt Nam.  Chừng nào lực phản phục kia bừng nở thành HOA TỰ DO DÂN CHỦ? Câu trả lời xin được giải bày thông qua ba tình huống sau đây
 
          I.- BANG GIAO VIỆT- HOA.

                                    
      (Nông đức Mạnh Tổng bí thư đảng CSVN hèn hạ cúi đầu)

Việt ở đây là Việt Cộng. Hoa ở đây là Trung Cộng. Ðối với Việt Cộng, quyền thống trị của đảng CSVN là mục tiêu tối thượng. Nhóm chữ “quyền lợi dân tộc” chỉ được CSViệt Nam xử dụng như một khẩu hiệu tuyên truyền trống rỗng và nhàm chán. Ðầu thập niên 1990, sau khi Liên Xô và hệ thống CS thế giới tan vỡ, với ý đồ bám chặt quyền thống trị xã hội Việt Nam, nhóm lãnh đạọ CSVN đã đề nghị Trung Cộng đứng ra làm lãnh tu tối cao của các quốc gia CS còn sống sót , bao gồm: Trung quốc, Việt Nam, Cuba, Bắc Hàn. Trung Cộng lạnh lùng giữ im lặng trước đề nghị nồng nhiệt của CSVN. Những năm kế tiếp, vẫn với ý muốn chấp nhận quì gối trước Trung Cộng để được yên thân ngồi trên ngai vàng Việt Nam, CSVN đã liên tục phục vụ “Thiên triều” bằng các hành động sau đây:

-1999 VC ký thỏa ước nhượng một phần lãnh thổ Việt Nam cho Trung Cộng.
- 2000 VC ký thỏa ước nhượng một phần lãnh hải cho Trung Cộng.
-Ngay sau vụ  nhóm Bin Laden tấn công vào Trung Tâm Thương Mại Quốc Tế Nữu Ước và Ngũ Giác Ðài tại Hoa Thịnh Ðốn ngày 11/09/2001, VC đã cùng Trung Cộng tổ chức biểu tình gọi là “liên hoan ăn mừng chiến thắng”.
-Ngày 12 tháng 9/ 2004, VC ban hành pháp lệnh cho phép người Trung quốc với tư cách du khách (kể cả nhân viên tình báo giả dạng du khách) được quyền tự do di chuyển đến bất cứ nơi nào trên lãnh thổ Việt Nam.
-Ngoài ra, tuân lệnh Trung quốc, VC xây dựng rất nhiều cầu cống (đặc biệt là 11 cây cầu băng qua sông Hồng), phi trường, xa lộ Trường Sơn... Tất cả những phương tiện giao thông vừa kể nhằm giúp cho quân đội Trung quốc dễ dàng tràn về phương Nam Việt Nam trong trường hợp cần thiết.

Trên đây chỉ là một số sự việc trong muôn ngàn sự việc khác cho thấy VC đã phục vụ Trung Cộng bằng tất cả thái độ mẫn cán. Thay vì ban thưởng cho VC, Trung quốc laị lầm lì, công khai và triền miên đánh phá Việt Nam:

-Từ nhiều năm qua, Trung quốc không ngừng đẩy hàng lậu ồ ạt đè bẹp thị trường Việt Nam, làm cho kinh tế Việt Nam vô phương phát triển.
- Hải quân Trung quốc thường xuyên bắn giết ngư phủ Việt Nam nhằm độc chiếm vịnh Bắc Bộ.
-Trung quốc cho người xâm nhập Việt Nam để thu mua móng chân trâu, đuôi trâu với thâm ý giết chết nông nghiệp Việt Nam.
-Một số sông ngòi quan trọng của Việt Nam (đặc biệt là sông Cửu Long) có thượng nguồn từ Trung quốc. Lợi dụng vị thế địa hình vừa kể, Trung quốc không một chút ngần ngại phạm tội ác gây ô nhiễm trầm trọng môi trường sinh sống của người Việt.

Nói chung, Trung quốc không từ bỏ bất kỳ âm mưu hiểm ác nào có tác dụng đẩy đất nước và con người Việt Nam rơi vào hố diệt vong. Sự thể này cho chúng ta thấy: Trung quốc quyết tâm tạo mọi loại sức ép để biến VN thực sự thành một tỉnh của Trung quốc. Sống bên dưới các loại sức ép kia, CSViệt Nam thừa biết hai điều:

-Một là Trung quốc mãi mãi ghi nhớ Việt cộng là một tên tôi tớ phản bội. Phản bội Tàu để chạy theo Nga. Chiến tranh Hoa Việt tháng 2/1979 là vết nhơ không thể tẩy xóa được trong lịch sử bang giao VC và TC.
-Hai là, để trả hận thù cũ, một khi Việt Nam nằm gọn trong vòng tay đô hộ của Bắc xâm, Trung Cộng sẽ không dành đất sống cho VC. Ðó là hai lý do giải thích tại sao ngày nay CSViệt Nam lại phải nỗ lực tìm đường từ giã Bắc Kinh. Sau khi chia tay với Bắc Kinh, CSViệt Nam sẽ đi về đâu? Câu trả lời nằm trên mối bang giao Mỹ-Hoa.
II.- BANG GIAO MỸ- HOA.

Ðầu thập niên 1970 do nhu cầu tách rời Trung quốc ra khỏi Liên Xô, Hoa Kỳ đã tích cực giúp Trung quốc phát triển năng lực quân sự lẫn kinh tế. Ðầu thập niên 1990, Liên Xô và hệ thống CS thế giới tan rã. Bang giao Mỹ Hoa trở nên ngày một xấu đi, điển hình là các sự việc sau đây:

- Tháng 12 năm 1998, Trung quốc ký một hiệp ước hợp tác  quân sự với Taliban.Trong đó có điều khoản: Taliban cam kết chuyển giao cho Trung quốc những đầu đạn hỏa tiễn do Hoa Kỳ bắn vào các căn cứ huấn luyện của Hồi Giáo cựu đoan. Những đầu đạn này vì lý do ky thuật đã không phát nổ. Trung Quốc cần những đầu đạn kia để đánh cắp bí mật quân sự của Mỹ.
- Ngày 08/03/1999 Hoa Kỳ chính thức phản đối Trung quốc về việc Trung quốc đã gài địêp viên Wen Lee Ho vào làm việc tại căn cứ nguyên tử Los Alamos của Hoa Kỳ.
- Trước biến cố ngày 11 tháng 9 năm 2001 không bao lâu, Trung quốc ra lệnh cho cơ quan tuyên huấn của quân đội Trung quốc dịch tác phẩm “Chiến tranh không hạn chế” từ tiếng Hoa ra tiếng  Ả Rập. Bản dịch này nhằm  giúp Bin Laden huấn luyện quân khủng bố một cách tinh vi và hữu hiệu hơn. Tác giả của tác phẩm kia là Kiều Vương và Vương Tương Toại, họ là quân nhân của quân đội Trung quốc.
- Do phát triển kinh tế bừa bãi, thiếu tính toán, guồng máy kinh tế khổng lồ của Trung quốc ngày nay đang phải đối đầu với những khó khăn cực kỳ to lớn: thiếu nước, thiếu nhiên liệu, thiếu điện, lực lượng lao động già nua do chính sách mỗi gia đình một con được áp dụng từ 1979... Nhằm đương đầu với khối khó khăn vừa kể, Trung quốc một mặt xâm lấn các quốc gia lân bang, mặt khác sẵn sàng thực hiện bất kỳ hành động tàn ác nào, miễn là hành động đó đáp ứng được hy vọng cứu nguy nền kinh tế Trung Quốc. Ðó làl ý do giải thích tại sao Trung quốc bảo trợ và buôn bán vũ khí sinh hóa, nguyên tử với Bắc hàn, Iran cùng các quốc gia và tổ chức khủng bố chống Mỹ trên đất Mỹ và trên toàn thế giới. Các hành động vừa nêu chẳng những giúp Trung quốc thâu lợi nhuận mà còn tạo điều kiện để Trung quốc quấy nhiễu Hoa Kỳ. Quấy nhiễu như vậy gây  tác dụng cầm chân Hoa Kỳ ngõ hầu Trung quốc có thể một mình một ngựa tiến chiếm ngôi vị bá chủ hoàn cầu.

Ðối đầu với một Trung quốc ngang ngược và nham hiểm, Hoa Kỳ không thể không nghĩ đến một chính sách ngoại giao riêng dành cho Trung Quốc. Sự kiện Hoa Kỳ đón tiếp thủ tướng CSViệt Nam Phan Văn Khải là chỉ dấu  rõ ràng nhất cho thấy những toan tính mới của Mỹ hướng về Hoa .
III.- BANG GIAO MỸ - VIET.

                                      
            Sau một thời gian đương đầu với khủng bố, Hoa Kỳ nhận biết rằng các chế độ độc tài áp bức chính là cha đẻ của nạn khủng bố quốc tế, và rằng chỉ có chế độ dân chủ chân chính mới có khả năng giải trừ được tận gốc rễ các tệ nạn: độc tài, tham ô, buôn lậu, khủng bố...Vì vậy, trong bài diễn văn nhậm chức nhiệm kỳ II, Tổng Thống George W Bush khẳng định: “Sự tồn tại của nền tự do tại Hoa Kỳ ngày càng lệ thuộc vào kết quả tự do tại các quốc gia khác. Hy vọng tốt nhất cho nền hòa bình trong thế giới của chúng ta là sự phát triển tự do trên toàn cầu”.
Nhằm khẳng định quyết tâm dân chủ hóa toàn cầu, Tổng Thống George W Bush đưa ra hai thông điệp:

-Thứ nhất: Nói với các nhà cầm quyền độc tài áp bức: “ Những lãnh tụ của các chính quyền có thói quen cai trị lâu năm cần biết rằng: để phục vụ nhân dân, quý vị phải học đặt niềm tin nơi nhân dân của quý vị. Hãy bắt đầu con đường tiến bộ và công bằng thì Hoa Kỳ sẽ đi bên cạnh quý vị.”
-Thứ hai: nói với những người đấu tranh cho tự do, dân chủ: “ Những người cách mạng dân chủ gặp phải cảnh bắt bớ, đàn áp, tù đày hoặc lưu vong, xin quý bạn có thể hiểu rằng: Hoa Kỳ nhìn thấy quý bạn là ai: là những lãnh tụ tương lai trên quốc gia tự do của quý bạn.”

Mục tiêu quan trọng hàng đầu của chương trình dân chủ hóa toàn cầu do Hoa Kỳ phát động chính là Trung Quốc. Muốn vậy, Hiệp Chủng Quốc phải ưu tiên vô hiệu hóa những mưu toan quấy phá an ninh quốc tế của Trung quốc. Từ kế hoạch vô hiệu hóa vừa kể, Hoa Kỳ chọn CSViệt Nam như một đồng minh thân cận, kiểu Pakistan. Nếu Pakistan có chung biên giới với Iran và Afghanistan thì Việt Nam có chung biên giới với Trung quốc. Ðó là lý do giải thích tại sao ngày 3 tháng 2 năm 2005, từ San Francisco trong một bài thuyết trình in sẵn, ông Michael W Marine, đương kim Ðại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, long trọng xác nhận: “ Hoa Kỳ tôn trọng chủ quyền, sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và kiên quyết chống lại bất cứ nỗ lực nào nhằm chia rẽ hay gây rối biên giới của Việt Nam. Trái lại, chúng ta có lợi ích chung trong việc bảo đảm an ninh khu vực và trên thế giới. Mối quan hệ hợp t ác trên lãnh vực quốc phòng hiện nay của chúng ta là những bước đi đầu tiên nhằm tìm ra một phương cách phù hợp để cả hai nước có thể cùng nhau đối phó với những thách thức an ninh trong thế kỷ 21.”

Ðể củng cố lòng tin tưởng của người Mỹ và người Việt đối với chính sách ngoại giao mới trong bang giao Việt Mỹ, Ðại Sứ Michael W Marine nhấn mạnh: “ Mặc dầu cả hai quốc gia chúng ta đã có lịch sử không thuận hợp, song một sự kiện rõ ràng là cả Việt Nam lẫn Hoa Kỳ hiện không có dị biệt nào về mặt chiến lược.”
Không còn nghi ngờ gì nữa, CSViệt Nam cần chạy trốn hiểm họa Bắc thuộc lần thứ tư. Hoa Kỳ cần một đồng minh cản bước tiến của Trung quốc. Hai cái “cần” vừa kể cộng lại với nhau tạo thành bang giao Việt Mỹ 2005. Sự có mặt của Thủ Tướng Phan Văn Khải tại Hoa Kỳ vào tháng 6 năm 2005 là dấu hiệu mở đầu công cuộc đổi chủ của CSViệt Nam. Từ chủ Tầu, VC chạy qua chủ Mỹ. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, lợi dụng bàn cờ chính trị quốc tế, VC tự nhận mình là kẻ chiến thắng và gọi Mỹ là kẻ chiến bại. Ba mươi năm sau: 30/4/2005 cũng chính bàn cờ chính trị quốc tế đã buộc CSViệt Nam phải quy phục Hoa Kỳ. Quyết định quy hàng của CSViệt Nam đã đẩy chế độ độc tài này đối diện với hai giai đoạn lịch sử:

- Giai đoạn I: còn gọi là giai đoạn trăng mật giữa Mỹ và VC. Tại gia đoạn này có thể Hoa Ky đáp ứng một số yêu sách của CSViệt Nam về kinh tế cũng như về nhu cầu tăng cường sức mạnh quân sự.
-Giai đoạn II: đây là giai đoạn CSViệt Nam phải đồng loạt nhận lãnh hai loại áp lực:

                + Áp lực từ phía chính phủ Mỹ: muốn thi hành hữu hiệu vai trò lá chắn đối với Trung quốc, CSViệt Nam phải là một nhà cầm quỳên không tham ô, luật pháp phải tinh vi và khoa học. Nói ngắn và gọn, CSViệt Nam phải dân chủ hóa theo đúng chủ trương đã được xác định trong bài diễn văn nhậm chức tổng thống nhiệm kỳ II của ông George W Bush.
                + Áp lực từ phía nhân dân Hoa Ky ø(đặc biệt là người Mỹ gốc Việt): tại Hoa Kỳ dầu là Dân Chủ hay Cộng Hòa, không thể có nhà cầm quyền nào dám coi thường lá phiếu của người dân bằng cách dùng đồng tiền thuế của người dân để nuôi dưỡng dài hạn một chế độ độc tài và tham ô kiểu CSViệt Nam. Vì vậy bang giao Việt Mỹ hiểu theo nghĩa Việt Nam là Pakistan tại Ðông Nam Á, chắc chắn sẽ bị cử tri Hoa Kỳ gây áp lực nặng nề, nhằm buộc Mỹ phải dân chủ hóa Việt Nam, với tốc độ làm chóng mặt chế độ độc tài. Sỡ dĩ vị trí của người Mỹ gốc Việt trên địa bàn áp lực chính trị tại Mỹ được bài viết này nhấn mạnh là vì đó là một thực tế chính tri mà Hà Nội không thể chối bỏ. Ngày 17/04/2005 trên báo Thanh Niên của CSViệt Nam chính Lê văn Bàng thứ trưởng bộ ngoại giao của Ha Nội đã phải xác nhận:” Vai trò của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ trong mối quan hệ giữa Hoa Thịnh Ðốn và Hà Nội là rất quan trọng.”

Dưới cả hai loại áp lực kể trên, CSViệt Nam không thể không quy hàng thể chế tự do dân chủ. Ðó là chân ý nghĩa của bài viết: 30 năm sau, kẻ chiến thắng xin quy hàng. Ðó còn là sức mạnh hiển nhiên của lực phản phục được diễn tả bằng những chuyển mình của lịch sử.

                                                                       ÐỖ THÁI NHIÊN
     Tặng và lưu ý cho vợ chồng tên Việt gian Nguyễn phương Hùng
              
 
Nguyễn Phương Hùng cúi đầu, khom lưng     Hai tên Mỹ gian phản quốc Julius và                  
hèn hạ trước tên chủ Nguyễn Thanh Sơn,       Ethel Rosenberg, bị tử hình vào ngày                                                                                
 thứ trưởng ngoại giao việt cộng                     19 tháng 6-1953 vì tội làm gián điệp
                                                                           ăn cắp bí mật vũ khí bom nguyên tử,                
                                                                          bán cho Liên sô


Saturday, December 15, 2012



Tấm lòng kính gởi chị Ỷ Lan
 
                                                                       Tống phước Hiến
 
            
 
Viết để kính tặng chị Ỷ-Lan (Tức Penelop Faulker) Phó Chủ-tịch Ủy Ban Bảo-Vệ Quyền Làm Người Việt-Nam tại Paris.                               
                       *
 
Rất tình cờ, sững sờ nghe chị nói,
Giọng thiết tha, thương Dân Việt, thẫn thờ.
Theo làn sóng, máu chị rung ngấn lệ,
Tôi bồi hồi, nghe mật rót, ngẩn ngơ.
                        *
Tiếng Ai đó, từ phương xa, xa thẳm,
Thấm nghĩa tình, như tiếng hát gọi đàn.
Tiếng chị nói từ trời Anh-Cát-Lợi,
Mà nghe sao, gần gủi, quá nồng nàn.
                       *
Rồi từ đó, mang niềm mơ tri ngộ,
Ơn của Người, ơn tri kỷ chung lòng.
Non Nước ơi, oai linh xưa Tiên Tổ,
Hãy cao lời, cho trăm nhánh chung giòng.
                       *
Như Dân Việt, chị hiểu về Nước Việt,
Tiếng Việt-Nam, thành mạch máu nuôi thân.
Yêu Ðất Việt, chị thở bằng tiếng Việt,
Thương Quê-Hương, lòng trinh sạch vô ngần.
                       *
Ðường lưu lạc, chợt nhớ lời chị nói,
Tủi phận mình, tài mọn, sức yếu hèn.
Cũng có lúc, nuôi giấc mơ Phù-Ðổng,
Cùng roi thần, ngựa sắt diệt tà đen.
                       *
Tôi đã gặp, cũng nhiều trang Tuấn-Kiệt,
Mài Gươm Thiêng, đâu quản ngại đêm ngày
Lịch sử  giống giòng thêm lần lập lại,
Ỷ-Lan xưa, có phải Ỷ-Lan nầy!
 
                       *
                         Kính phục chị, vì tấm lòng cao cả,
  Lòng xót đau, thương dân Việt uất sầu.
  Chị đã quyết, khướt từ hoa với mộng,
  Trải tấm lòng, góp sức đốt đêm thâu.
                                 *
          Hỡi những kẻ, chung giống nòi Việt tộc,
 Sao đành tâm, ngoảnh mặt với Quê-Hương!
 Tại sao nở theo chân phường bạc ác,
 Vì lợi danh, đành bán rẻ cương thường!
                        *
 Và phải chăng, có những Người yêu Nước,
 Tình Quê-Hương chất chứa vạn niềm mơ.
 Nên họ đã, tung mình bay tứ xứ,
 Chờ hồi sinh, cùng quay lại bến bờ.
                         *
  Bởi có phải, từ xa xưa tiền kiếp,
  Chị là Hương, là Sắc giống Tiên Long.
  Ðã đoán trước, ngày Non Sông máu lệ,
  Tìm cơ duyên, tạo muôn hướng chung lòng.
                          *
  Rồi mai đây, nắng Vàng sơn Quê Mẹ,
  Vạn loài hoa, về lại mái nhà xưa.
  Ta xây lại trên hoang tàn đổ nát,
  Hát tiếp Ca dao, nhịp võng đẩy đưa.
                           *
  Trong tim tôi, dọc ngang nhiều đại lộ,
   Mỗi con đường, một kỹ niệm chứa chan.
   Ngày Nước Việt vượt qua muôn hiểm nạn
   Chị sẽ về chung tiếng hát họp đàn
      
 
Tống phước Hiến
 
___________________________________
Vua Lý-Thánh-Tôn gần 40 tuổi mà chưa có con,  đến chùa cầu tự Gặp được người con gái có nhan sắc tuyệt trần, đứng dựa vào khóm lan. Vua triệu về cung phong làm Nguyên Phi Ỷ Lan (dựa vào khóm lan) Sau bà  sinh ra vua Lý Nhân Tôn. Bà giúp vua trị quốc. Triều đại nhà Lý hưng thịnh có một phần do tài đức của bà
 
                                                    ---------------------------------
 BRUXELLES, Bỉ (QM) - Trước phân ban nhân quyền của Quốc Hội Châu Âu, đại diện một tổ chức bảo vệ nhân quyền Việt Nam lên tiếng hôm Thứ Năm tố cáo Việt Nam đàn áp Phật Giáo và ngăn cản hoạt động của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
        “GHPGVNTN là cộng đồng tôn giáo lớn nhất và lâu đời nhất bị hệ thống Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước do đảng Cộng Sản dựng lên nhằm kiểm soát và sử dụng,” bà Penelope Faulkner, phó chủ tịch Quê Mẹ - Hành Ðộng Cho Dân Chủ Việt Nam kiêm phó chủ tịch Ủy Ban Bảo Vệ Quyền Làm Người Việt Nam, điều trần.
       “Các tăng, ni, Phật tử bị bắt giam, hăm dọa, sách nhiễu,” bà Faulkner nói thêm. “Những ai liên hệ với các chùa thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đều có nguy cơ bị đàn áp, khủng bố”.
       Cuộc điều trần do bà Heidi Hautala, chủ tịch Phân ban Nhân quyền Quốc Hội Châu Âu, và ông Geoffroy Harris, chủ tọa.
        Bà Penelope Faulkner cho biết mặc dù đạo Phật là đạo khoan dung, hòa bình, nhưng “Phật Giáo đồ trong nhiều nước Á Châu bị đàn áp và kỳ thị vì tín ngưỡng bất bạo động của họ. Tại Việt Nam, nhà cầm quyền Cộng Sản không cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) hoạt động tôn giáo.”
        Bà Penelope Faulkner cho Quốc Hội Châu Âu biết rằng “chỉ vài ngày trước đây thôi, trong dịp Phật Ðản, nhà cầm quyền đã mở cuộc đàn áp lớn rộng tại các chùa thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, ngăn cản đại lễ và sách nhiễu Phật tử. Công an đã ngăn cấm Phật tử đến chùa Giác Minh ở Ðà Nẵng dự lễ Phật Ðản, không cho chư tăng tuyên đọc thông điệp Phật Ðản của Ðại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ, vị lãnh đạo tối cao Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, và cũng là người được thế giới đề cử giải Nobel Hòa Bình, và hiện nay ngài bị quản thúc tại Thanh Minh Thiền Viện ở Saigon sau bao thập niên bị tù đày chỉ vì ngài ôn hòa đòi hỏi cho tự do tôn giáo và nhân quyền”.
        Bà Penelope Faulkner cũng nhắc đến những cuộc đàn áp đối với các cộng đồng tôn giáo khác tại Việt Nam. Bà đưa ra trường hợp công an thẳng tay đàn áp và bắn chết người H'mong biểu tình đòi hỏi tự do tôn giáo và cải cách đất đai trên miền thượng du phía Bắc ở tỉnh Ðiện Biên trong tháng 5 này. 18 người bị công an giết và hàng trăm người bị thương, kể cả thiếu nhi. Bà cũng đưa ra con số 300 người Thượng Tây Nguyên còn bị giam giữ vì tham gia biểu tình đòi hỏi đất đai và tự do tín ngưỡng. 
                                    *****************************
        Một Nữ sĩ người Anh nói tiếng Việt lưu loát và biết rất rõ về nền văn hóa VN, thật đáng bái phục và kính nể vì Cô Ỷ Lan còn biết rất nhiều về nền văn hóa và sử-học của VN!


Monday, December 3, 2012

Nhân Quyền và Cơ Cấu của Hạnh Phúc

                                                                                Đỗ Thái Nhiên

          Hạnh phúc là gì? Nói tới hạnh phúc, người ta thường nghĩ tới nhóm chữ: Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc. Ba thuật ngữ vừa kể là ba mặt của một khối tam giác đều. Thiếu đi một mặt, khối tam giác biến mất. 
          Độc lập là lời khẳng định: "Xin đừng ai chạm tới tôi”.  Để thể hiện độc lập, con người cần tự do, muốn làm gì thì làm. Độc lâp và tự do là đôi cánh của hạnh phúc. Tuy nhiên, hạnh phúc là hạnh phúc trong  xã hội và với xã hội. Không có xã hội, không thể có hạnh phúc. Vì vậy hạnh phúc của một người phải “hợp tấu” với hạnh phúc của muôn người. Đó là “mạng lưới” của hạnh phúc.

Thế nào là cơ cấu của hạnh phúc?

           Nhằm giúp cho ý niệm “cơ cấu của hạnh phúc” trở nên cụ thể và dễ hiểu, trước tiên, chúng ta hãy nghĩ tới cơ cấu của mạng lưới giao thông trên các xa lộ. Muốn cho mạng lưới này được vận hành ổn định:

1) Đường xá, cầu cống phải kiến tạo vững chắc và an toàn.
2) Luật lệ giao thông cần qui định với những tiên liệu đầy đủ chi tiết, hợp lý và nghiêm minh.
 3) Tài xế lái xe đủ sức khoẻ, có bằng lái xe hợp pháp.
4) Các loại xe lăn bánh trên xa lộ cần đạt mức toàn hảo về mặt cơ khí. Bốn thành tố vừa nêu tạo thành cơ cấu của mạng lưới giao thông.  Bây giờ hãy nói tới cơ cấu của hạnh phúc. 

           Không thể có loại hạnh phúc của cá nhân sống đơn độc trên núi lạnh, trong rừng sâu. Đời người chỉ ổn định chừng nào hạnh phúc cá nhân và hạnh phúc xã hội thường hằng giao thoa nhưng cũng thường hằng không va chạm, không xâm lấn lẫn nhau. Làm thế nào có được hai cái “thường hằng” kia? Trả lời câu hỏi này, con người đứng trước bức tranh cơ cấu của hạnh phúc. Mạng lưới hạnh phúc là mối liên hệ song phương và xoay chiều giữa hạnh phúc cá nhân và hạnh phúc xã hội nhìn một cách tổng quát. Đó là tranh sơ phác của hạnh phúc. Chi tiết hoá tranh sơ phác để nhận ra những cơ phận tinh vi giúp cho hạnh phúc cá nhân và hạnh phúc xã hội có khả năng hợp tấu. Đó là tranh chân dung của hạnh phúc, còn gọi là cơ cấu của hạnh phúc. Bảo vệ sự ổn định cho cơ cấu của hạnh phúc là đối tượng tối cao mà vận động của xã hội nhằm đạt tới. Muốn vậy, xã hội phải nhờ tới bàn tay của luật pháp: “ở đâu có xã hội, ở đó có luật pháp”.  Luật pháp là công cụ duy nhất hữu hiệu trong việc điều hành dòng sống của xã hội, điều hành cơ cấu của hạnh phúc.

          Trước khi có luật pháp, xã hội loài người đã có tâm lý yêu chuộng công bằng và lẽ phải, đã có phong tục, tập quán.  Như vậy, phong tục tập quán là hình chụp cơ cấu của hạnh phúc. Một cách căn bản nhất, luật pháp chính là phong tục tập quán được pháp lý hoá. Nhìn thực trạng xã hội, con người hình dung được luật pháp. Ngược lại, đọc luật pháp, con người thấy được thực trạng xã hội. Năm 1993 tại Vienna, Aó quốc, 170 quốc gia cùng với 1000 tổ chức phi chính phủ (NGO) đã cùng nhau biểu quyết: luật quốc tế nhân quyền bao gồm Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền 1948 và hai Công ước Quốc Tế Nhân Quyền về Dân Sự-Chính Trị và về Kinh Tế-Xã Hội 1966. Bài viết này xin chọn Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền 1948 như một văn kiện nhân quyền căn bản để đặt câu hỏi: Bằng cách nào luật quốc tế nhân quyền tổ chức và điều hành cơ cấu của hạnh phúc cho từng cá nhân và cho toàn xã hội?
           Luật quốc tế nhân quyền bao gồm 30 (ba mươi) điều khoản đã truyền đi hai loại mệnh lệnh: lệnh cấm làm và lệnh buộc phải làm. Mặt khác, khi tuyên xưng Quyền sống tự do và bình đẳng của con người (điều 1), Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền mặc nhiên đòi hỏi mỗi người có Nghĩa Vụ phải tôn trọng quyền sống tự do và bình đẳng của những người chung quanh. Với “nội dung kép” như vừa trình bày, mặc dầu mang tên gọi là Tuyên Ngôn Nhân Quyền nhưng trong thực chất, văn kiện pháp lý này có hàm ý đồng loạt minh xác nghĩa-vụ-làm-người và quyền-làm-người.
          Với văn thức hai loại mệnh lệnh, với nội dung kép, với sự đồng thuận mạnh mẽ của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền 1948 đã nêu bật bốn thành tố sau đây trong bức tranh cơ cấu của hạnh phúc:

1) Nghĩa vụ làm người:

Đã là con người, một cách bẩm sinh, ai cũng muốn thực thi nghĩa vụ làm người, đó là sự thể hiện nhân cách. Vì vậy điều (1) Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (TNQTNQ) xác định: “ Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi, có lý trí và lương tri và phải đối xử với nhau trong tình bác ái”. Phẩm cách của con người chẳng là gì khác hơn là nỗ lực liên tục và bền bỉ thượng tôn nhân tính của chính mình và của những người chung quanh. Thông qua lý luận của triết học chọn con người làm tiền đề và nhất là thông qua những ghi nhận thực tại đời người lấy ra từ Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, nhân tính gồm bốn yếu tính:

           -Tính thứ nhất là tính  xây dựng và sống với gia đình: Nam nữ trung thành song phương và bình đẳng trên mọi lãnh vực của đời sống. Điều (16) TNQTNQ: “ (a) Đến tuổi thành hôn, thanh niên nam nữ có quyền kết hôn và lập gia đình mà không bị ngăn cấm vì lý do chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. Họ có quyền bình đẳng khi kết hôn, trong thời gian hôn thú cũng như khi ly hôn. (b) Hôn thú chỉ có giá trị nếu có sự thuận tình hoàn toàn tự do của những người kết hôn. c) Gia đình là đơn vị tự nhiên và căn bản của xã hội và phải được xã hội và quốc gia bảo vệ.”

          -Tính thứ hai là tính tự vệ: Khi quyền sống bị xâm phạm, con người không được phép tự ý sử dụng bạo lực để trả đủa. Mọi tranh chấp phải giải quyết bằng thương nghị hoà bình hoặc nhờ sự phân xử của toà án. Điều (8): “ Ai cũng có quyền yêu cầu toà án quốc gia có thẩm quyền can thiệp chống lại những hành động vi phạm những quyền căn bản được hiến pháp và luật pháp thừa nhận”

          -Tính thứ ba là tính thoả mãn nhu yếu: Mỗi người phải tôn trọng quyền bình đẳng về cơ hội ( không bị chèn ép, không bị đối xử bất công) trong hoạt động kinh tế của mọi người. Điều (22): “ Với tư cách là một thành viên của xã hội, ai cũng có quyền hưởng an sinh xã hội, cũng như có quyền đòi được hưởng những quyền kinh tế, xã hội và văn hoá cần thiết cho nhân phẩm và sự tự do phát huy cá nhân của mình, nhờ những nỗ lực quốc gia, sự hợp tác quốc tế, và theo cách tổ chức cùng tài nguyên của quốc gia.”

          -Tính thứ tư là tính xã hội: Cá nhân hưởng những tiện ích do xã hội cung ứng. Đáp lại cá nhân có nghĩa vụ hợp tác với xã hội để xây dựng và phát triển xã hội.      Điều (21):  “ (a) Ai cũng có quyền tham gia chính quyền của quốc gia mình, hoặc trực tiếp hoặc do các đại biểu do mình tự do lựa chọn.(b) Ai cũng có quyền bình đẳng tham gia công vụ trong nước.”

2) Quyền làm người.

          Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con cái, đương nhiên cha mẹ có quyền quở phạt con cái. Quyền là công cụ giúp con người thực thi nghĩa vụ. Quyền và nghĩa vụ là hai mặt của một bàn tay. Như đã trình bày ở trên, nghĩa vụ làm người có tính bẩm sinh, ai cũng như ai. Vì vậy, không phân biệt chủng tộc, màu da, tuổi tác, giới tính, tôn giáo, chính kiến… mọi người đều có quyền làm người như nhau. Tuy nhiên, chế độ độc tài các loại do âm mưu toàn trị để dễ bề tham ô đã viện dẫn các lý do khác nhau nhằm thủ tiêu nhân quyền của người dân. Lý do rằng: Mỗi dân tộc có một nền văn hoá riêng, cần được giải thích nhân quyền theo nghĩa riêng và rằng tuyên ngôn quốc tế nhân quyền là sản phẩm tư tưởng của các nước phương Tây, nó có tính đề cao cá nhân chủ nghĩa, điều này không phù hợp với công việc tổ chức và điều hành xã hội phương Đông. Dĩ nhiên các luận điểm vừa nêu hoàn toàn vô căn cứ, không có dẫn chứng cụ thể và khoa học.

          Xin chớ quên rằng: thủ tiêu quyền làm người đồng nghĩa với hành động ngăn cản con người thực thi nghĩa vụ làm người, nghĩa vụ thượng tôn nhân tính. Sự thể này sẽ nhanh chóng biến quan hệ giữa con người với con người trở thành quan hệ giữa động vật này với động vật kia, quan hệ mạnh được yếu thua, quan hệ “mắt đổi mắt, răng đổi răng”. Lúc bấy giờ nhà cầm quyền độc tài sẽ viện lý do dân trí thấp, lý do “an ninh trật tự công cộng là nhu cầu sống còn của xã hội” để biến xã hội loài người thành một chuồng động vật đặt dưới quyền khống chế cực kỳ hà khắc của guồng máy công an trị.

3)Văn hoá nhân văn.

          Trong trường hợp nhân quyền được tôn trọng toàn phần, nhân tính được thượng tôn: gia đình hạnh phúc, kinh tế vận hành trên nguyên tắc bình đẳng cơ hội, mọi va chạm đều được giải quyết trong thương nghị hoà bình, cá nhân hợp tác hoà hài với xã hội. Do nhân tính được thượng tôn, do lòng thương yêu và tôn kính lẫn nhau, người dân tự giác tôn trọng luật pháp của quốc gia. An ninh trật tự xã hội được vận hành trên tinh thần tự giác của người dân là chân ý nghĩa của thiên hạ thái bình. Xã hội thái bình là môi trường cần yếu giúp văn hoá nhân văn thăng hoa.

4) Dân chủ nhân quyền.

          Nghĩa vụ làm người là nghĩa vụ bẩm sinh của người dân. Nhân quyền vừa là quyền bẩm sinh của người dân vừa là công cụ giúp người dân thực thi nghĩa vụ làm người. Văn hoá nhân văn thăng hoa là công trình được vươn lên từ tim óc của người dân. Do ba sự kiện “của người dân” vừa nêu, chế độ chính trị điều hành đời sống của quốc gia hiển nhiên phải là chế độ do dân làm chủ. Dân chủ  ở đây chắc chắn không là “ dân chủ tập trung” kiểu Cộng Sản, dân chủ “đảng cử, dân bầu”. Dân chủ ở đây là dân chủ tam quyền phân lập, trong đó mọi thao tác dân chủ đều được giải thích minh bạch thông qua sự viện dẫn nghiêm chỉnh từng điều khoản của bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền ngày 10/12/1948. Điều (21) khoản (c) TNQTNQ minh xác: “Ý nguyện của quốc dân phải được coi là căn bản của mọi quyền lực quốc gia, ý nguyện này phải được biểu lộ qua những cuộc tuyển cử có định kỳ và trung thực, theo phương pháp phổ thông đầu phiếu kín, hay theo các thủ tục tuyển cử tự do tương tự”.

          Điều 21, khoản (c) vừa trích dẫn: dân chủ đích thực là phương pháp luận của nhân quyền. Dân chủ biến tư tưởng nhân quyền thành hành động sống cụ thể. Không có dân chủ, không thể có nhân quyền. 


Kết luận.

           Nhân quyền không hề là một tài liệu đề cao cá nhân chủ nghĩa. Nhân quyền là sản phẩm tư tưởng được hợp soạn và/hoặc được nhìn nhận bởi toàn bộ xã hội quốc tế văn minh. Nhân quyền không mảy may gây tác hại cho an ninh trật tự xã hội như các chế độ độc tài xuyên tạc. Ngược lại chính nhân quyền đã sản sinh ra môi trường an ninh trật tự tự giác bằng cách cung cấp cho xã hội lớp người thượng tôn nhân tính, lớp người tự giác. Kỷ luật hoàn toàn dựa vào sự canh chừng của cảnh sát là loại kỷ luật của những xã hội chưa trưởng thành. Xã hội vận hành trong trật tự không vì tâm lý khiếp sợ công an và toà án mà vì tính tự giác của con người, đó là xã hội văn minh thượng đẳng.

          Mãi cho tới đầu thế kỷ 21 nhân quyền vẫn chỉ là ước mơ chưa thành của loài người. Tuy nhiên, nhân quyền không thể đơn phương vận động và phát triển. Nhân quyền phải gắn bó chặt chẽ với một hạch tâm gồm bốn “điện tử”: nghĩa vụ làm người + quyền làm người + văn hoá nhân văn + dân chủ nhân quyền. Nhân của hạch tâm là hạnh phúc của con người. Bốn điện tử kia không điện tử nào được xem là lãnh đạo . Không điện tử nào có khả năng tồn tại bên ngoài hạch tâm. Cả bốn điện tử đều phải hổ tương tác động để cùng nhau vận động và phát triển, cùng nhau lấy hạnh phúc của đời người làm đối tượng để phục vụ. Hạch tâm vừa mô tả được gọi là cơ cấu của hạnh phúc. Có thấy được và hiểu được cơ cấu của hạnh phúc, con người mới có cơ hội và khả năng để cùng nhau thực hiện giấc mơ  hạnh phúc: hạnh phúc cho xã hội và cho chính mình. Ý chí biến giấc mơ hạnh phúc trở thành hiện tượng sống cụ thể của đời người chính là lời chúc hạnh phúc mà bài viết này xin trân trọng kính gửi tới mỗi Quý Độc Giả nhân dịp kỷ niệm ngày Quốc Tế Nhân Quyền 10/12/2012 ./.

Đỗ Thái Nhiên

Thursday, November 29, 2012


             Chuyện Lửa Phựt lên từ Huế

           (Ngôi Bảo Tháp của Đức Đệ III Tăng Thống Thích Đôn Hậu)

                                                               Tống Phước Hiến

             Một băng thâu hình video dài 56 phút được sửa chửa và gom lại từ 8 máy thâu hình chuyên nghiệp và một số máy thâu hình khác của công an Tỉnh Thừa thiên – Huế dùng làm tang chứng truy tố những người tham gia cuộc biểu tình tự phát ngày 24.5.1993 kéo dài khoảng 5 tiếng đồng hồ của đồng bào Huế. Đồng thời, nhà cầm quyền cộng sản dùng làm tài liệu để cử các viên chức Bộ Ngoại giao đi giải độc tại các nước Âu Mỹ và các tổ chức Nhân quyền Quốc tế.
Sự việc được khởi nguyên vì Công an cộng sản bức hiếp các Tu Sĩ Phật giáo tại chùa Linh Mụ Huế. Cộng sản dùng băng thâu hình nầy để vu khống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất  (GHPGVNTN) phá rối an ninh trật tự công cộng. Ngược lại, Ủy Ban Bảo vệ quyền làm người tại Paris do giáo sư Võ văn Ái làm chủ tịch cũng dùng như một tang chứng tố cáotrước dư luận quốc tế về tội ác cộng sản đối với chư Tăng Ni cùng đồng bào Phật tử tại địa phương Huế.
Cuộc biểu tình của hơn 40 ngàn người thành phố Huế gồm Tăng, Ni và Phật Tử phát khởi do hành dộng thô bạo bất nhân của công an cộng sản Thừa thiên Huế đã cướp xác của một Phật Tử là một người Huế thường hay lui tới công đức tại chùa Linh Mụ, tên Nguyễn ngọc Dũng phát đại nguyện tự thiêu

                                Diễn tiến sự vụ
1/ Ngày 21.5.1993 tlúc  9 giờ sáng Phật tử Nguyễn ngọc Dũng phát đại nguyện tự thiêu tại trước ngôi bảo tháp của Đức Đệ Tam Tăng Thống Đại Lão Hòa Thương Thích Đôn Hậu trong khuôn viên chùa Linh Mụ để cúng dường đạo pháp nhằm phản đối chính sách đàn áp GHPGVNTN của cộng sản.
2/ Khi phát hiện được, thì người phật tử nầy đã chết. Đại Đức Thích Trí Tựu Giám Tự chùa Linh Mụ cho lập bàn vong ngay nơi tự thiêu. Sau đó, công an Huế đến đập phá bàn vong và cướp mất thi hài cùng những giấy tờ tùy thân của người tự thiêu.
3/ Ngày hôm sau,22.5.1993 Đại Đức Thích Trí Tựu viết thư phản đối hành động bất nhân nầy và đòi cộng sản phải trả lại thi hài Phật tử tự thiêu để Chùa Linh Mụ tổ chức tang lễ theo nghi thức Phật Giáo.
4/ Nhà cầm quyền cộng sản không những từ chối đòi hỏi chính đáng của Đại Đức Thích Trí Tựu mà còn ngụy tạo lý lịch và gia cảnh của người tự thiêu.
5/ Theo tin tức loan đi từ đài phát thanh Huế của cộng sản thì người tự thiêu tên là Đào quang Hộ, là người nghiện ngập, không nghề nghiệp, bị bịnh sida, quê quán ở tỉnh An Giang. Do vì cãi nhau với vợ về chiếc độc bình nên uẫn ức đi ra Huế, đến chùa Linh Mụ để tự thiêu!
6/ Chúng ta đã từng biết chế độ do bạo quyền cộng sản thống trị có nhiều chuyện lạ như :
 -Tàu hải giám Việt Nam khi đang công tác thăm dò tài nguyên trên vùng biển chủ quyền của Việt Nam có hải quân bảo vệ bị tấn công.
- Ngư dân Việt Nam bị bắn chết, bị đánh đập, bị bắt tù, ghe tàu bị phá hủy, ngư cụ bị tịch thu, bị bắt phải đóng tiền phạt qua ngã ngoại giao,...
- Xâm nhập chiếm đất làm nhà, lập cơ sở kinh doanh sinh sống, đi lại trên đất Việt Nam, thậm chí đánh đuổi dân Việt Nam.
- Hàng hóa thực phẩm độc hại ào ạt tuôn vào Việt nam vừa trốn thuế, vừa phá hoại kinh tế, vừa làm tổn hại sức khỏe người Việt Nam…
Thế mà nhà cầm quyền cộng sản chỉ tuyên bố đó là tàu lạ, người lạ, hàng lạ, thì ngụy quyền cộng sản Việt Nam cũng thật là….,LẠ!
Do đó, việc ngụy tạo lý lịch người của người tự thiêu nầy cũng thuộc vào chuyện LẠ, nhưng… rất bình thường của họ. Nếu cộng sản không ngụy tạo, không gian dối thì mới thật là… LẠ! Xin giải thích về chuyện tuy lạ nhưng lại rất bình thường dưới sự cai trị gian dối của cộng sản như sau:
a/ Chỉ cãi với vợ chiếc độc bình mà đi tự tử thì thật là …LẠ!
          b/ Gia đình cư ngụ tại tỉnh An Giang, giận vợ đi tự tử mà phải cất công đi đến Huế, phải chầu chực mua vé xe để di chuyển đến một nơi xa xôi, cách xa đến cả ngàn cây số để tự thiêu, thì thật là… LẠ!
          c/ Đến được Huế rồi, lại phải lặn lội tìm đến trước ngôi Bảo Tháp của Đức Đệ Tam Tăng Thống  Đại Lão Hòa Thương Thích Đôn Hậu trong khuôn viên chùa Linh Mụ cách thị xã Huế đến 5 km.để tự thiêu thì thật là… LẠ!
  7/ Ngày 23.5.1993 Ủy Ban Nhân Dân Thừa Thiên Huế triệu tập Đại Đức Thích Trí Tựu giám tự Chùa Linh Mụ đến làm việc vào lúc 7 giờ 30 sáng ngày 24.5.1993. Đầu tiên là họ bắt Đại Đức Thích Trí Tựu ký giấy xác nhận ba điều LẠ kể trên.
   8/ Đại Đức Thích Trí Tựu không đồng ký và bước ra trước cổng, ngồi tọa kháng và tuyên bố tuyệt thực để phản đối. Công an dùng bạo lực hành hung và khiêng cưỡng Đại Đức Thích Trí Tựu vào bên trong.
   9/ Khi công an dùng bạo lực thì tin tức được loan truyền rất nhanh chóng, nhất là lúc Đại đức Thích Hải Tạng thông báo rằng Đại Đức gọi điện thoại qua Paris đến Ủy Ban Bảo Vệ Quyền Làm Người do Giáo Sư Võ văn Ái làm Chủ Tịch, và thế giới đã biết cộng sản đàn áp Phật giáo, thì số người tham dự cuộc biểu tình càng lúc càng đông lên tới khoảng trên 40 ngàn người gồm đồng bào Phật tử, các Đại Đức đang tu học và hành đạo tại chùa Linh Mụ như: Thich Hải Tạng, Thích Hải Thịnh, Thích Hải Chính và một số chư Tăng Ni từ các tự viện khác. Vì bị ngăn cản,bị đàn áp nên Chư Tăng chia nhiều nhóm ngồi tọa kháng  nhiều nơi.
 10/ Đến 9 giờ 30 thì chiếc xe Toyota chở  Đại Đức Thích Trí Tựu từ trong sân đi ra đường theo hướng  nhà lao Thừa phủ. Những người biểu tình và một số Tăng Ni vụt chạy đến ngăn cản, xe ngừng lại. Đại Dức Thích Hải Tạng nhìn vào trong xe và thấy Đại Đức Thích Trí Tựu bị đè nằm, có dấu hiệu đau đớn do bị đánh đập. Một thanh niên mở được cửa xe đưa Đại Đức Thích Trí Tựu lên xe xích lô đạp chạy về lại chùa Linh Mụ. Sau đó người thanh niên nầy đến ngồi bên cạnh các Tăng sĩ với khuôn mặt bị trầy trụa do bị đánh đập.
 11/ Cuộc biểu tình tự động giải tán lúc 2 giờ 30 sau khi biết Đại Đức Thích Trí Tựu đã về lại Chùa Linh Mụ.
 12/ Đây là cuộc biểu tình  rất ôn hòa, lớn nhất quy tụ lên đến hơn 40 ngàn người  kể từ sau ngày 30.4.1975 kể từ khi bạo quyền cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm được Miền Nam Tự Do.

Vài chi tiết cần lưu ý:
1/ Những người mặc áo “sơ mi” (shirt) trắng, đội nón lưỡi trai là công an chìm, rất hung hãn
          2/ Một người ngoại quốc dáng vẻ gốc người Á châu, đội nón rơm rộng vành bị  công an giựt mất máy hinh.
          3/ Một phụ nữ mặc áo hoa bị lôi bắt vì tiếp nước uống cho người biểu tình.
          4/ Một thanh niên bị đánh rách mặt.
          5/ Xe vòi rồng đến trước và xịt thẳng nước vào đám biểu tình.
          6/ Không thấy ai đã lật và đốt cháy chiếc xe Toyota chở Đại Đức Thích Trí Tựu,  chỉ thấy lúc xe đã bị lật và đã bị bốc cháy.Với tám máy quay chuyên nghiệp và rất nhiều máy quay của công an thì không thể không quay được người thực hiện hành vibạo động nầy. Vì vậy, theo chúng tôi suy đoán thì chi tiết nầy đã bị công an cắt xén vì chính công an thực hiện để vu cáo cho người biểu tình.
          7/ Khi chiếc xe Toyota  đã bị  bốc cháy thì công an mới xuất hiện, nhưng lại không can thiệp.
          8/ Lực lương công an chìm nhiều và rất hung dữ, còn công an sắc phục thì ít và có vẻ “hiền” hơn.
           9/ Lực lượng bộ đội cộng sản xuất hiện với roi điện, khiêng che chắn trên tay.
        10/ Lực lượng biểu tình rất ôn hòa. Không la hét ; không bạo lực và cũng không hô hào bạo lực.
                                               Cộng sản trả thù:
Để rữa mối hận nầy, bạo quyền cộng sản đã trả thù như sau:
1/ Suốt 5 tháng ròng rã chư Tăng , đồng bào trong cuộc cuộc biểu tình bị các cơ quan truyền thông cộng sản như báo chí, phát thanh, phát hình xuyên tạc, chưởi rũa, vu khống, xúc phạm nhân thân rất thậm tệ
          2/ Ngày 15.11.1993, cộng sản đưa các Đại Đức và một số Phật tử ra xử.
          3/ Phiên xử không  tổ chức tại Pháp đình mà trong trại binh quân đội.
          4/ Báo chí, dân chúng và luôn cả thân nhân không được dự khán.
          5/ Bị can không được Luật sư biện hộ và bảo vệ, kẻ cả quyền tự biện hộ.
          6/ Ba Luật Sư Nhân quyền tại Pháp do GHPGVNTN chỉ dịnh đại diện và bào chửa không được cấp chiếu khán.
          7/ Bản án là chung quyết, không được quyền kháng án.
          8/ Kết quả các Tăng sĩ bị kết án:
               a/Thích Trí Tựu và Thích Hải Tạng  4 năm tù giam tại trại Ba Sao.
               b/ Thích Hải Thịnh, Thích Hải Chánh 3 năm giam tại trại Ba Sao.
               c/ Thích  Hạnh Đức 3 năm nhưng không biết trại giam.
               d/ Năm Phật tử khác bị án từ 6 tháng đến 4 năm –không rõ chi tiết.

Vài tin tức nhận được về sự trả thù khi quý Tăng sĩ đang bị giam tù
Đầu tháng 4/1994, các đại Đức Thích Trí Tựu, Thích Hải Tạng, Thích Hải Chánh, Thích Hải Thịnh tuyệt thực kéo dài 8 tuần lễ tại trại giam Ba Sao (tỉnh Hà Nam Ninh) – phân trại A, để phản đối việc xét xử trái pháp luật quốc tế, đòi “Quyền được chống án” và phản đối chính sách tàn bạo của cộng sản.
          Một số lớn các tù nhân đồng cảnh tại  phân trại A cùng đồng tuyệt thực để ủng hộ.
          Bạo quyền cộng sản trại giam chuyển các tăng sĩ nầy vào phân trại B. với hậu ý xúi giục, sai khiến tù hình sự (phạm tội đâm chém , hiếp người cướp của…)
Đánh đập đàn áp các vị tăng sĩ nầy.

Di Lụy sau ngày Phật tử Nguyễn  ngọc Dũng tự thiêu
        A-/ Nguyên nhân: Đại Lão HT Đôn Hậu viên ịich vào ngày 23/4/1992 (nhằm ngày 21/3 Nhâm Thân) tại Tổ đình Linh Mụ thành phố Huế, trụ thế 88 năm, trải qua 68 mùa An cư kiết hạ...  
          Cộng sản chủ trương tổcchức lễ quốc tang cho HT Đôn Hậu, nên đã thành lập Ban Tang Lễ sẽ từ Hà Nội vào Huế để thực hiện. Dự trù lễ quốc tang nầy sẽ có trao tặng Huân chương Hồ chí Minh là loại huân chương cao cấp nhất của đảng cộng sản ban thưởng cho người có công lớn nhất và các lễ nghi long trọng khác như điếu văn…, nhưng HT Đôn Hậu đã sáng suốt đã tiên liệu trước nên đã để lại chúc thư không thụ nhận bất cứ điều gì từ nhà nước cộng sản, tang lễ chỉ cử hành trong phạm vi môn đồ pháp quyến chùa Linh Mụ.
          Bị thất bại trong âm mưu muốn dùng tang lễ của HT Đôn Hậu để khuất phục GHPGVNTN, suốt từ tang lễ đến gần Lễ Tiểu Tường công an đã nhiều lần lúc công khai, lúc bắn tin ngấm ngầm de dọa trấn áp cá môn đồ Pháp quyến của HT Đôn Hậu như HT Thích Nhật Liên, Đại Đức Thích Trí Tựu, Thích Hải Tạng bắt buộc phải khai là di chúc giả, rồi ngụy tạo hình ảnh, âm thanh tạo thành phim, sau đó đem đi chiếu để đe dọa.
          Sắp đến ngày lễ, các ngã đường đến chùa Linh Mụ công an canh gác nghiêm cẩn, mọi sự xuất nhập vào chùa rất khó khăn. Những tự viện đề bị công an phá phách gây huyên náo, các tăng sĩ bị răn đe, di chuyển bị kiểm soát. Phật tử bị bắt làm tờ cam kết….
        Vì vậy một số lớn Tăng Ni, Phật tử không đến dự lễ được. Đó là nguyên nhân chính dẫn đến Phật tử Nguyễn ngọc Dũng phát đại nguyện tự thiêu để phản đối nhà cầm quyền cộng sản đàn áp GHPGVNTN

          B/ Nguồn cung cấp tin tức : Căn cứ vào Tờ Trình của toàn thể Tăng Chúng Chùa Linh Mụ do các Tăng sĩ : Hải Chánh, Hải Thành, Hải Trang, Hải Thông, Hải Đàm, Hải Viên đại diện kính gởi đến HT Thích Huyền Quang uyền Viện Trưởng VHĐ.GHPGVNTN và Tăng Đoàn Thừa Thiên Huế  ký ngày 11.6.1993 (tức 22.4. Quý Dậu)

          C-/ Thời gian và diễn biến;
                1-/Ngày 5.6.1993 tức 16.4.Quý Dậu:
a/ Sáng ngày 5.6.1993 công an chìm xuất hiện rất đông bao vây và dùng ống nhòm nhìn vào Chùa, họ còn giả dạng du khách viếng Chùa để tiếp cận đồng thời dùng ánh mắt, hành động, thái độ hay lời nói ngầm uy hiếp gây hoang mang lo sợ cho Tăng chúng và Phật tử.
                   b/ Lúc 5 giờ chiều cùng ngày Thầy Trí Tựu và thầy Hải Bình tiếp thầy Thích Từ Vân đến thăm tại nhà khách thì có 7 công an (5 nam + 2 nữ) đến làm hộ khẩu. Cùng lúc nầy thì các chú Hải Trang, Hải Thịnh cùng 2 Phật tử  làm công việc tại phia đông liêu điện Quan Âm. Thầy Hải Chánh làm vườn sau  chùa. Chú Hải Thông và 5 chú điệu khác đang công phu chiều tại chánh diện.
                   c/ Khoảng gần 6 giờ chiều một số đông có thể lên đến mấy trăm người mặc thường phục lẫn đồng phục công an có cả roi điện, vũ khí, ba-toon, đội nón sắt họ la hét với thái độ hung hăng tràn vào chùa. Cưỡng bức Tăng chúng và Phật tử hiện diện b8a1t phải ngồi yên, không được nhúc nhích di chuyển. Trước đó, họ đã lấy và gom dụng sản xuất hay làm vườn như  cuốc ,xẻng,dao. rựa…
                   d/ Sau khi toán công an hộ khẩu bào cho lực lượng công an võ trang  đã xong việc lấy lời khai hộ khẩu thì lực lương công an võ trang đến vây thầy Trí Tựu (thế danh lê Quang Vinh). Họ vật đè, dùng bạo lực sức mạnh để lột áo nhà chùa và thay bằng áo tù, còng thầy bằng còng số 8 rồi kéo đẩy thầy Trí Tự lên xe bít bùng đã đậu sẳn trước chùa.  Họ cũng khám xét phòng ngũ của thầy Trí Tựu và lấy đi  một  số băng cassette, video, giấy tùy thân. .
         e/ Thầy Hải Chánh sau vườn nghe tiếng ồn chạy vào và  bị công an võ trang đánh vào đầu bằng đùi ba-toon, với những lời chưởi rũa thô tục. Thầy Hải Chánh cũng bị còng đưa về lao Thừa phủ bắt làm kiểm điểm lúc 9 giờ 30 tối. Sau đó Thầy được trở về Chùa.
                    f/ Chú Hải Thông vừa mới xong khóa lễ công phu chiều thì bị mấy chục công an võ trang đến đến, bắt phải  cởi bỏ y hậu, nhưng chú Hải Thông không chịu, nên chú bị khoảng 6 tên công an vật dè xuống, bị lột bỏ y hậu thay áo tù và còng dẫn đi
g/ Phòng chú Hải Thịnh, Hải Trang cũng bị lục soát và lấy một số giấy tờ, vật dụng như băng video .
                    h/ Phòng của cố Đệ Tam Tăng Thống Đại Lão HT Đôn Hậu cũng bị lục tung và tịch thu một số vật dụng kỷ niệm.
                     i/ Lức 7 giờ 30 tối, công an lập biên bản, giao trách nhiệm cho thầy Hải Bình trông coi chùa và chịu trách nhiệm.
                     k/ Công an và Ủy Ban xã Hương Long tập họp các thầy, chúng điệu và khoảng 6 Phật tử có mật tại chùa xem cuốn phim mà họ dàn dựng  giảo mạo về chúc thư  và Di Huấn Đức Đại lão HT Thích Đôn Hậu Đệ Tam Tăng Thống GHPGVNTN. Gần như toàn thể những khán giả, tham dự viên bất đắc dĩ đều bịt ai, nhắm mắt không nghe, công an dùng lời lẻ tục tỉu để khích động nhưng không thành.
                     l/ Khoảng 10 giờ thì phần lớn họ rời khỏi chùa, nhưng họ để lại số ít kiểm soát chùa rất nghiêm ngặt không cho ai ra vào  chùa.

             2-/ Ngày 6.6.1993:
 Công an bắt triệu tập để làm việc liên tục, bất kể giờ giấc nên các khóa lễ công phu không hành trì được

                                                      Tống Phước Hiến