Tuesday, April 10, 2012

Tố cáo tội ác cộng Sản : Trại trừng Giới A20

Kính thưa quý bạn đọc,
Những ngày hôm nay, 37 năm về trước, quê hương chúng ta đang đứng trên bờ vực nguy khốn. Bây giờ nhìn lại, chúng ta không khỏi ngậm ngùi thân phận quê hương, gia đình và chính chúng ta. Buồn đau thật nhiều, trách bạn và cũng trách chính mình!
Đây là thời gian, chúng ta nhìn về quá khứ , nhìn về quê hương trầm thống. Chúng ta cần bình tĩnh nhận định lại để tìm phương kế giải cứu quê hương.
Đã quá đủ cho những giòng lệ rơi vì tang tóc, nghiệt ngã, đoạn trường vì non sông trong  tay tay nội thù cộng sản Việt Nam.
Quê hương đang cần chúng ta hành động!
Để tạo thêm ý sức mạnh cho ý chí hành động, để những ai chưa từng biết sự dã man tàn ác cộng sản, nhất là để những thế hệ sau hiểu được lý do tại sao chúng ta phải chống cộng? Đừng bao giờ được phép quên rằng, cộng sản  miệng thì kêu gọi hòa hợp hòa giải, lúc nào cũng nhân danh”tình dân tộc nghĩa đồng bào”, nhưng thực tâm của cộng sản Việt Nam là phải phân tán tiêu diệt sức sống dân tộc, phá hủy đạo lý, nghiền nát nhân cách. Biến con người thành sản phẩm thành hàng hóa vô tri, thành loại người máy chỉ biết tuân phục vì nhân cách không còn. Con người trong xã hội cộng sản chỉ là loại động vật người đã bị thuần hóa. Tại sao cộng sản lại hủy diệt sức sống và tiềm năng dân tộc?. Ai ra lịnh cho cộng sản thi hành bạo lực tàn khốc mà tội phạm ngút ngàn nhuộm xám bầu trời? Xin thưa,  cộng sản Việt Nam là công cụ của cộng sản Tàu. đang thi hành chính sách “dùng người Việt giết người Việt” của cộng sản Tàu. Điều đã quá hẳn nhiên, chẳng cần chứng minh, toàn dân Việt đã hiểu đã biết và cũng phản phẩn uất hờn căm.
Đây là một trong những tang chứng, làm gia tăng nỗi căm hờn, chúng tôi những nhân chứng và cũng là nạn nhân trong chế độ lao tù cộng sản sau ngày quê hương bị rơi vào bàn tay máu cộng sản Việt nam.
Kính thưa bạn đọc, là những chiến sĩ VNCH. Chúng tôi chiến đấu đến khi lịch sử bắt buộc phải sang trang bởi quyền lợi siêu cường, bởi những nhân vật lãnh đạo bất xứng đã đào ngũ khi chiến trường còn mịt mù khói súng. Bạn bè chúng tôi có người hiên ngang ngã xuống, có người thấy cần phải sống để một mai quê hương còn cần những tay súng. Mỗi người tự liệu cho mình một hướng đi thích hợp nhất với khả năng, hoàn cảnh và ý chí. Và rồi, chúng tôi gặp nhau tại các trại tù cộng sản.
Trong lãnh thổ Việt nam thời cộng sản thống trị, đi đâu cũng thấy nhà tù, trường học , bệnh viện , đình miếu, tất cả phải thành nhà tù. Vẫn chưa đủ, cộng sản biến cả hý viện, khách sạn thành nhà tù. Tù vẫn còn nhiều tù, cộng sản lập thêm những nhà tù trong rừng sâu, nơi hoang sơ chưa từng có bóng người.
Những chiến binh chúng tôi, một thời trên chiến địa, giáp chiến tử sinh với kẻ thù trên nhiều mặt trận từ trận địa chiến, đến du kích, truy lùng săn đuổi đến tình báo cài cấy chân rết vào những tổ chức quần chúng, của kẻ địch, hay bất cứ từ đâu, miễn là phải tìm cho bằng được kẻ thù cộng sản để mang an bình cho đồng bào, cho xứ sở. Khi sa cơ rơi vào tay giặc, chúng tôi lại tiếp tục cuộc chiến đấu. Cuộc chiến đấu nầy không phải là giành dân lấn đất, mà cuộc chiến bảo toàn nhân cách. Dù kẻ thù dùng mưôn trùng gian manh quỷ quyệt để triệt hạ nhân cách người chiến sĩ Quốc Gia, chúng vẫn không khuất phục được người tù chúng tôi.
Hôm nay, đứng trước đồng bào, đồng đội và lịch sử, chúng tôi ngẩng cao đầu nhìn về quá khứ về những thế hệ tiền nhân và cha anh, chúng tôi đã làm  kẻ thù biết thế nào là phẩm chất của người chiến sĩ Quốc Gia với lý tưởng Tổ Quốc – Danh Dự - Trách Nhiệm. Nhìn về thế hệ tương lai, chúng tôi không hổ thẹn để bước vào những trang bi tráng và oai hùng của lịch sử.
Kính thưa quý bạn đọc, cộng sản quá bạo ngược, ai đã từng bị cộng sản đọa đày đều có thể viết lại những trang sử bi thương ấy. Riêng với cá nhân chúng tôi, một trong hàng triệu tù nhân cộng sản. Chúng tôi bị lưu đày thống hận qua nhiều trại giam. Nhưng trại giam mà chúng tôi muốn trình bày trong mùa Quốc Hận nầy là trại giam A20.
Mục đích của những bài viết nầy không nhằm gây thêm máu lệ, không có ý định trả thù phục hận, vì máu người Việt nam chúng ta đã đổ xuống quá nhiều. Tang tóc, thê lương và thù hận sẽ làm yếu đi năng lực giữ nước. Chúng tôi là khẳng quyết rằng Cộng sản là tập đoàn không có tính người, không thể hòa giải với họ. Muốn có một Việt Nam cường thịnh, và nhân bản thì trước tiên phải loại trù cộng sản ra khỏi giòng sống lịch sử.
Mục đích của chúng tôi cũng muốn nói với những kẻ đang còn phục vụ trong chế độ cộng sản hãy phải hiểu rằng nhân loại nói chung và người Việt nói riêng đang căm thù họ. Những người nầy chỉ có một lối thoát duy nhất là sử dụng bất cứ phương tiện nào có được, quay mũi súng, dồn sức lực cùng với toàn dân đánh xập chế độ công sản. Đừng nghe theo những tên đằu lĩnh cộng sản dụ dỗ rằng “còn đảng, còn ta”. Không phải như thế mà còn đảng là ta mất nước, mà ta mất nước nghĩa là ta là tên nô lệ.
Kính thưa bạn đọc,
Trại giam A20 đã được nhà văn Nguyễn Chí Thiệp viết  thành tác phẩm có tên:”Thiên hồi ký Trại Kiên Giam”, quý vị cũng có thể đã nghe đâu đó, nhưng có lẻ quý vị cần phải hiểu thêm  những gì về trại giam A20.
Trại Giam 20 còn được gọi là trại Kiên Giam, là Trại Trừng Giớ.. Trại A20 dựng trong mật khu Kỳ Lộ, có người gọi là thung lũng tử thần Kỳ Lộ.
Chúng tôi có hỏi  anh Vũ Ánh tức nhà báo Vũ Ánh cũng là người bạn tù chung trại A20. Trong tù anh Vũ Ánh là người anh, chúng tôi gọi anh là Alpha Vũ Ánh. Anh là người dám đem sinh mạng để đánh đổi cho mục tiêu cao đẹp là phải đánh đổ cho bằng được những láo lừa, phỉnh gạt , đó là việc anh xuất bản tập san “Hợp Đoàn” trong nhà tù. Anh Vũ Ánh cho biết mã số A20 như sau:



           Tống Phước Hiến thân,
            Các loại trại có mã số A như A-20 (Xuân Phước), A-30 (Pleibong) và A-10 (Khe Sanh) được thành lập để kiên giam một số tù cải tạo mà họ coi là nguy hiểm. Phương thức lọc lựa những "khuôn mắt" tù này nằm trong Phương Án 4, một trong những phương án đầy ải tù nhân chính trị cũng như các cựu sĩ quan quân đội, viên chức và sĩ quan cảnh sát và đảng viên của các chính đảng ở Miền Nam Việt Nam nhất là Việt Nam Quốc Dân Đảng mà cho rằng "không cải tạo được". Thật ra, chính sách cải tạo của Cộng Sản hoàn toàn thất bại không cải tạo được ai hết. Có những tù cải tạo mới từ biệt giam, cuồng cọp ra hay nổi tiếng là những người chống đối chính sách của trại giam cũng được thả là một chứng liệu hùng hồn cho thấy điều ấy. Vì thế "không cải tạo được" chỉ có nghĩa là thuộc thành phần nguy hiểm, cần phải chỉ định cư trú vào những vùng rừng núi, trong những trại gọi là "kiên giam", nghĩa là những trại trong đó các tù "không cải tạo được" sẽ không bạo giờ được xét tha, nếu không có những biến chuyển chính trị áp lực từ bên ngoài.
Đây không phải là kiểu trại như Lý Bá Sơ hay Đầm Đùn thời Việt Minh mà mang hơi hướng của kiểu trại trừng giới do Stalin lập ra ở Siberia. Anh em chúng ta gọi A-20 là "trại trừng giới" cũng là xuất phát từ ý đồ của kiểu trại này: kỷ luật thật khắt khe, lao động khổ sai nhưng thiếu ăn triền miên, đau ốm không được cấp thuốc men và những kiểu hành hạ về tinh thần như tạo ra những sự kiện để thúc đẩy tù cải tạo đấu tố nhau, bình bầu mức ăn lấy của người này cho người kia, tạo ra bối cảnh chia rẽ nghi kỵ lẫn nhau. Trừng giới chỉ có nghĩa là trừng phạt nghiêm khắc (punish strictly) mà thôi.
Nếu không do có những cuộc thương lượng về chương trình HO của ông Funseth, tôi nghĩ cho đến bây giờ chúng ta vẫn còn ở đó hoặc bị chuyển đến một trại A- nào đó rồi. Theo tin của cụ Nguyễn Tú (cụ có một số anh em tù chính trị có án trở về từng viết thư cho cụ, năm 1993, khu phân trại E của A-20 là trụ sở của một nhà máy thủy điện nhỏ với một hồ chứa nước rộng mấy chục mẫu. Tuy nhiên, Cộng sản vẫn còn duy trì một phần nhà tu này trong phân trại B để nhốt chính trị có án và tù hình sự, chứ còn phân trại E thì không còn dấu tích gì.
  Vài hàng để bổ túc cho Hiến rõ theo các tin mà tôi nhận được.

      Kính thưa quý bạn đọc, ngày mai chúng tôi sẽ kính gởi bài “Thiên Thần trong ngục Tối” của Thiếu Úy Nhảy Dù A20 Phạm Đức Nhì. Bài viết chiếu lại đoạn phim  những  chiến sĩ  thuộc những  đơn vị,  Quân lực, CSQG, Đảng phái chính trị, tôn giào, giáo phái,  tổ chức dân sự  VNCH (như  Chưởng Môn Nhân Vovinam  - tức Việt Vỏ Đạo cụ  Lê Sáng), khi bị cộng sản đày ải vào phòng kỷ luật đã phải uống nước tiểu của nhau vì ước mong có cơ hội góp phần của mình cho lịch sử sang trang, mà điều kiện quan thiết trước hết là cần phải sống
          Trân trọng kính chào
           A20 Tống Phước Hiến

                               *************************************

         Các bạn A-20 thân quí,
         Sau cuộc họp mặt lần đầu tiên ở Little Saigon, có một vài bạn tù của chúng ta ở các trại khác hỏi tôi như thế này: "Bộ các anh hãnh diện vì cái tên trại giam của bọn đỏ hay sau mà lấy cái tên A-20 đặt trước tên của các anh". Tôi biết những người bạn của chúng ta hơi "bảo hoàng hơn vua" cho nên hỏi cắc cớ như vậy. Nhưng tôi mạn phép các bạn A-20 trả lời như thế này: "Những người nào chưa sống ở trại trừng giới hay còn gọi là trại Kiên Giam A-20 thì chưa hiểu được rằng cái trại này, nếu không có gì thay đổi từ bối cảnh bên ngoài, sẽ là nấm mồ tập thể của chúng tôi. Có thể nói, không trại nào có những đòn phép được chắt lọc từ những bộ óc siêu phàm của Cộng Sản về cách giết người từ từ và làm cho người tù cải tạo chết từ từ chỉ với hai chiêu sau đây: ăn thật đói, làm việc thật nặng, ốm đau không có thuốc, dồn người tù vào cảnh đói khát để mong chúng tôi kiệt sức dần dần, mất cảnh giác sẽ giày xéo nhau. Nhưng, chỉ một số rất nhỏ trường hợp, có thể vì hoàn cảnh hay không chịu được sự hành hạ, nên mới hư đốn, còn đa số tuyệt đối anh em A-20 vẫn vững tin,  đi thẳng lưng và sẵn sàng trả giá để bảo vệ nhân cách của mình. Và cho đến nay, mỗi khi nhắc tới một người tù nào của trại A-20, anh em chúng tôi vẫn còn nhớ rất rõ chúng tôi là ai, sống như thế nào trong trại giam, đã siết chặt tay nhau trước kẻ thù ra sao. Những A-20 chúng tôi khi nói với các con đã khôn lớn của mình không ngượng miệng: Bố là A-20".
           Đặt chữ A-20 trước tên của mình chỉ là để cho dễ nhận ra nhau với một niềm hãnh diện rằng dù Cộng Sản có thi thố những trò khốn nạn nhất, phi nhân tính nhất, thì "bọn bay cũng không làm gì khuất phục nổi chúng tao" như thế là vui rồi, phải không các bạn".
            Hôm tôi đi Washington DC để vào Tòa Bạch Ốc và Thượng, Hạ Viện Hoa Kỳ để vận động nhân quyền cho Việt Nam, gặp lại Phạm Văn Bính tức Bính Đại Hàn ở Biệt Động Quân. Tôi chỉ ngờ ngợ, nhưng Bính hỏi: "Ông có học Chu Văn An Không, có ở A-20 không". Tôi nhớ ra Bính ngay. Như thế là kể từ ngày đến trại trừng giới A-20 đến Tháng 3 vừa rồi, đã 33 năm tôi mới gặp lại người bạn học cũ và là người bạn đồng tù cùng trại với mình. Bính định cư tại Atlanta đã một mình lái xe liên tiếp 11 tiếng đồng hồ từ Atlanta đến Washington D.C để tham dự vào cuộc vận động.

             Còn điều gì quí hơn vào giai đoạn chúng ta đã bước vào cái tuổi bị "lên danh sách" hết rồi, chỉ chờ kêu tên. Gặp nhau lần đầu ở Nam Cali, nhiều bạn nói với tôi không biết có gặp sang năm nữa không. Và vì thế lần gặp thứ hai ở San Jose, cũng không chắc có lần thứ ba ở nơi nào đó trên đất Mỹ này hay không. Chúng ta, đám lính già còn sống, không hổ thẹn nhắc đến tên nhau, nhìn mặt nhau, còng uống được với nhau ly rượu, nhắp với nhau được ngụm trà thì còn ngại gì mà không về San Jose để "trẩy hội" kỳ này?
             Nhắc đến chuyện họp mặt dĩ nhiên chúng ta cũng không thể tránh được những giây phút buồn bã vì những A-20 đã ra đi, những A-20 bệnh nặng và những A-20 không còn đủ sức khỏe để đi xa, hoặc những bạn ở xa muốn đến San Jose nhưng lại không có phương tiện di chuyển. Nhưng tôi tin rằng nếu mở cái web của các cựu tù cải tạo trại trừng giới A-20, những bạn không thể đến được San Jose lần này cũng có thể thấy được những A-20 của các bạn còn sống ngày nay dung nhan mùa hạ ra sao.

             Điều mà cá nhân tôi mong mỏi là khi đến San Jose, mọi người chúng ta sẽ được hưởng một cuộc họp mặt thân mật, nghi thức giản dị với tinh thần "chín bỏ làm mười", nhưng vui và tìm lại được không khí đoàn kết như thời gian chúng ta còn phải dựa vào lưng nhau chống lại mưu mô thâm độc của kẻ thù ở A-20 Xuân Phước. Mong lắm thay !

            Thân ái,
           A-20 VŨ ÁNH

                 



















Tuesday, March 27, 2012

THẦM LẶNG:
                MỘT LOẠI NGÔN NGỮ
                                                Tống phước Hiến
   Nói đến ngôn-ngữ, thông thường người ta nghĩ ngay đến chữ viết hay lời nói. Nhưng với hoàn cảnh hiện nay, những người tỵ nạn Cộng sản chân chính còn dùng thái độ, hay hành động để phát biểu quan điểm và sự quyết tâm của mình. Hình thái ngôn ngữ đó được gọi là “ngôn ngữ thầm lặng”.
   Do ý thức và thái độ dấn thân của người xử dụng loại ngôn ngữ không âm thanh, không bút tự nầy mà sinh ra hai dạng thức tạm gọi là im lặng và thầm lặng. Im lặng và Thầm lặng không thể bị ngộ nhận là tương đồng. Đây là “ngôn ngữ” riêng của hai nhóm người có cùng một tổ quốc, cùng một hoàn cảnh lịch sử, xã hội, môi trường, và nhất là có cùng một trách nhiệm. Nhưng vì quan điểm, và hoài bão trong cuộc sống khác nhau nên thái độ sống và nỗi ưu tư của họ thường trái nghịch nhau. Nhìn khái quát thì hai thái độ, hai cung cách ấy có vẻ giống nhau về ngoại mạo. Nhưng sự thực lại khác xa nhau về những gì thuộc giá trị làm người. Chân dung họ xin được tạm phác họa như sau: 
        A-/ IM LẶNG :
    Im lặng là thái độ của một loại người dửng dưng không hề quan tâm, không mảy may xúc động đến những sự kiện, những vấn đề có liên quan đến quê hương, đến cộng đồng tỵ nạn mà họ là một thành viên. Ðời sống của họ chỉ gói trọn vào tiền bạc, vật chất và hưởng thụ ! Những vấn đề như: Họ từ đâu, và tại sao đến đây ? Nghĩa vụ đối với Tổ Quốc, trách nhiệm đối với các thế hệ trước và sau họ như thế nào ? Chẳng bao giờ những điều ấy là nỗi suy tư của họ. Như cỏ đá, họ luôn đứng bên lề trách nhiệm. Loại người nầy thường có thái độ trịch thượng, khinh miệt những người chung quanh yếu kém hơn họ, họ thường dùng những lời lẽ khiếm nhã như: chuyện ruồi bu, bọn vô công rỗi nghề, hoặc họ dùng bất cứ hình dung từ vu khống, mạ lị nào đó để ám chỉ những người đang hy sinh nhập cuộc, dấn thân vận động cho lịch sử chuyển hóa hầu mang lại lẽ sống và quyền làm người cho đồng bào đang còn bị bọn Cộng sản thống trị (trong đó có thân nhân họ). Nhưng họ rất dễ dàng tay bắt mặt mừng, vui vẻ chuyện trò thân mật, đượm tình “đồng bào” khi một tổ chức hay một kẻ nào đó mà trước đây họ đã không tiếc lời miệt thị, nay tiếp cận với họ, hứa hẹn sẽ cho họ quyền lợi vật chất, hay địa vị xã hội, mà từ đó họ nghĩ rằng sẽ có thể khai thác cho những tư lợi riêng lẻ. Bạn không bao giờ thấy họ trong đám đông quần chúng, hưởng ứng đóng góp công sức, tiền bạc hầu có thêm điều kiện đẩy mạnh công cuộc đấu tranh vì lợi ích Dân tộc (trong đó có họ) nhanh chóng đến thành công. Ðây là loại người mà xã hội gọi là “phường giá áo túi cơm ”.
                   B-/ THẦM LẶNG:
    Ðặc tính chung của quần chúng là: “thầm lặng”, không thích bon chen! Có thể vì họ không có phương tiện như truyền thông, diễn đàn để chuyển tải quan điểm, ý thức, hay có thể họ không quen nói trước quần chúng, mà cũng có thể họ không có năng khiếu diễn giải những suy tư bằng ngòi bút. Và cũng bởi vì có thể họ rất dè dặt, họ sợ... mất lòng! Họ chỉ muốn có hòa khí tốt để tạo đoàn kết, hầu liên lập thế lực, vì vậy họ xuề xòa, dễ dãi, ưa “chín bỏ làm mười”. Do đó, tâm lý chung của giới thầm lặng là tìm kiếm và hội nhập với những người thường cùng có mối quan tâm, cùng có nỗi buồn vui, vinh nhục với Quê hương. Họ tự nguyện nhập cuộc dưới nhiều hình thức và không bao giờ so đo, tính toán thiệt hơn. Việc đóng góp vào công cuộc chung là mệnh lệnh của lương tâm, của luân lý và của lý trí. Họ có mặt ở nhiều nơi, chung vai với nhiều tổ chức, chung tay với nhiều cá nhân cùng có những trăn trở, những thao thức, và cùng có ý thức chung là mong thực hiện điều ước muốn, được tích cực đóng góp phần mình vào đại cuộc. Họ đến, rồi ra đi rất bình thường và nhẹ nhàng! Họ chẳng phiền trách hay phê bình ai đã nhân danh hoặc không nhân danh họ, họ cũng không quan ngại ai đã lợi dụng hoặc không lợi dụng họ. Họ tự biết phải làm gì, phải làm với ai trong trường hợp nào. Ðiểm đặc biệt nhất của họ là “thầm lặng !”.
            Vì “Thầm Lặng” là lực lượng không tên, nên ai cũng có thể nhân danh họ, ai cũng có quyền suy diễn họ là "thành phần cơ hữu" của tổ chức mình. Từ nhận định đó, những cá nhân, những tổ chức chính trị khi phác thảo kế hoạch hành động thì "Giới Thầm Lặng" luôn được dự liệu là lực lượng xung kích chủ yếu. Qua một vài sự việc thành công vì mục tiêu là công cuộc chung, họ cũng đã “thầm lặng” thông báo:
- Quý vị đáp ứng đúng nguyện vọng của chúng tôi, nên chúng tôi ủng hộ và hậu thuẫn Quý vị!.               
Nhưng nếu cũng chính những tổ chức, những cá nhân ấy lợi dụng sự chân tình của họ cho mục tiêu riêng tư, phi nghĩa thì lập tức họ cũng thầm lặng gởi tín hiệu cảnh cáo những cá nhân, tổ chức nầy hiểu rằng:
          -Chúng tôi đã biết, chúng tôi có khả năng nhận định, hãy trả lại cho chúng tôi những gì thuộc về chúng tôi!
Ðấy là lúc họ biểu tỏ lòng tự trọng, sự khiêm ái. Họ là vị quan tòa công minh, và tinh tế.
            Lực lượng “Thầm Lặng” nầy, vì sự thành bại của đại cuộc nên rất chân tình, thiết tha đoàn kết với chiến hữu. Nhưng họ cũng rất cương quyết, dứt khoát và khi cần thiết, họ lại không thầm lặng trước các thủ đoạn độc ác, gian manh trí trá. Khi sự “thầm lặng” trở mình thành “thịnh nộ” thì chính là cuồng phong ba đào, có thể gọi đó là sóng thần kết tụ bởi nhiều, rất nhiều những dòng sóng ngầm cuồn cuộn bên dưới dòng thủy lưu. Lịch sử gọi đó là sức mạnh của hồn thiêng Dân tộc.
    Hãy nhớ rằng họ chống cộng vì cộng sản là một tập đoàn sống nhờ và sống bằng gian manh, bất lương. Họ chống cộng hoàn toàn vì trách nhiệm với Tổ Quốc, vì tồn vong của Dân tộc chứ không phải vì hay cho bọn “Phiệt” bất kể là Quân phiệt, Tài phiệt, Thế phiệt hay Trí Phiệt, Quyền phiệt hay Giáo phiệt (Phiệt Duyệt 閥閱 là bản ghi công trạng, vua khen thưởng cho công thần và được treo trước cửa nhà, bên tả là Phiệt, bên hữu là Duyệt để công chúng biết mà kính nể, trọng vọng).
    Từ đây suy ra, quân phiệt, học phiệt là những thành phần được xã hội trọng vọng. Về sau chính họ hay những thế hệ tập ấm thường cậy công, cậy thế hống hách, sách nhiễu dân lành gây không biết bao đau thương tang tóc. Quân phiệt thì dùng bạo lực quân sự. Thế phiệt thì dùng cường quyền do ưu thế dòng dõi quan gia vọng tộc. Tài-phiệt thì dùng tiền bạc của cải để “đa kim ngân, phá luật lệ ”. Giáo phiệt thì dùng giáo quyền tôn giáo để thực hiện những tham vọng riêng tư cho cá nhân giáo sĩ hay cho sự phát triển tôn giáo họ…). Những kẻ kiêu ngạo, nhờ tấm bảng “Phiệt – Duyệt” tự cho mình là chân lý, là tối thượng, và mọi thành phần, mọi tổ chức khác phải khâm phục, tuân thủ.
       Do hoàn-cảnh xã-hội và nhu-cầu chống cộng, chống tà gian, chúng ta lại phải đối đầu một loại duyệt phiệt mới tạm gọi là: lương hảo phiệt, chống cộng phiệt nghĩa là một cá nhân hay một tổ chức nào đó nhờ vào một số thành tích chống cộng, làm bình phong, vì quá khứ đã hiển lộ được sự chân chính, đáng gọi là lương hảo. Nhưng rồi họ dùng công trạng đó như là một thứ vốn liếng để gây tạo thanh danh, thế lực, thao túng đại cuộc. Họ rình rập cơ hội để xé to, thổi phồng thêm những lầm lỗi của bất cứ ai, bất cứ tổ chức nào dù chỉ ở mức vi cảnh, hay nặng lắm là án phạt tội tiểu hình trở thành tội đại hình, đáng "tru-di tam tộc”. Dù vết thương chỉ đáng băng bó, thì họ lại giải phẫu, cố tình làm cho lỡ loét, ung thối để chặt bỏ và...đem chôn! (người phạm lỗi có khi do vô tình, do hoàn cảnh và cũng do không tiên đoán sẽ bị “chiến hữu“, hay nói theo kiểu cộng sản là ” nâng lên thành quan-điểm !”. Những lương hảo phiệt hay chống cộng phiệt nầy biến lỗi lầm của chiến hữu thành cơ hội, thành điều kiện và tận tình khai thác như: Lên án, vu khống, nhục mạ, nhất quyết bao vây không cho đối phương chiến hữu có điều kiện giải trình. Họ quyết khai tử bất cứ cá nhân hay thế lực nào xét thấy nguy hiểm cho vị thế độc quyền, độc tôn chống cộng của họ. Họ làm vẩn đục, gây nhiễu nhương phân tranh, tác hại tiềm lực chống cộng, mà hậu quả là lực lượng chống cộng bị rã rời, đào sâu sự nghi ngờ, chia rẽ mà cuối đường có thể là nguy cơ niềm tin bị tàn phá. Và thế là, do kiêu căng, do ý niệm công thần, từ vị trí lương hảo họ trở thành tai họa cho dòng tiến của lịch sử.
       Sự hiện diện của giới thầm lặng chính là tiếng nói rõ ràng, dứt khoát, là thái độ minh thị sự quyết tâm dấn thân cho đại cuộc. Hãy nhớ rằng giới thầm lặng rất tỉnh táo, phân biệt rất rõ ràng giữa tình cảm cá nhân và trách nhiệm người lưu vong, tỵ nạn cộng sản. Những nhà chính trị mộng du, những nhà lương hảo phiệt, chống cộng phiệt đừng nghĩ rằng lực lượng âm thầm đó không có phương tiện để biểu cảm rồi nhân danh họ mà làm những điều vô minh, bất chính. Thái độ thao túng ấy sẽ bị lực lượng thầm lặng trả lời bằng phản hồi với một thông-điệp: "Chúng tôi không thể chung đường với quý vị vì dường như quý vị cũng có những đặc tính na ná giống cộng sản, quý vị vô tình làm lợi cho cộng sản !”. Lực lượng âm thầm không có nhu cầu thay thế tập đoàn vô luân nầy bằng một tập đoàn vô luân khác.
        Thầm lặng không bao giờ là im lặng. Thầm lặng cũng biết nổi giận! Như trên đã nói, Khi thầm lặng nổi giận thì tác hại kinh khiếp vô cùng. Lịch sử chính trị thế giới đã từng chứng minh các cuộc Cách Mạng long trời lở đất, làm đảo lộn các hệ thức chính trị, đánh đổ những chế độ chính trị kềm hãm quyền sống con người, khai mở những kỷ nguyên chính trị Tự Do, Dân Chủ và Nhân Bản đều vì và do đa số thầm lặng tác động.
    Lực lượng thầm lặng đã từng chiến thắng quân phiệt, tài-phiệt, thế-phiệt… và chắc chắn sẽ không cho phép bọn hoạt đầu chính trị khống chế, thao túng họ dưới phấn son áo mão của những người đánh lừa nhân thế để được thế nhân gọi là lương hảo. Nhưng khi con tắc kè biến màu sang “ phiệt”, thì lực lượng thầm lặng xem bọn “lương hảo phiệt”, hay “chống cộng phiệt” cũng là bọn bất lương, cũng nham-hiểm ác độc như Cộng sản, nhưng lại có phần nguy hiểm hơn cộng sản,  bởi vì chúng là những con rận trong chăn, khó phát hiện hơn và độc hại hơn. Và vì thế, dĩ nhiên, trong nhiều trường hợp lực lượng thầm lặng phải xem chúng là kẻ nội thù.
Xin hãy tỉnh thức hỡi những chính trị gia mộng du. Hãy quăng bỏ chiếc áo “lương hảo phiệt”, “chống cộng phiệt”. Hãy trở về vị trí những nhà lương hảo, những chiến sĩ chống cộng chân chính để chúng tôi vẫn được là những chiến hữu như trước kia của quí vị với tất cả niềm tôn kính và thân thiết.
                                                          Tống Phước Hiến

Wednesday, March 21, 2012

Thư Ngỏ Gửi Ông Liên Thành Về Bài Viết
“Sự Thật Về Ông Thích Đôn Hậu”
 
                                           (Quan Điểm của Huynh Trưởng Lê Công Cầu)
 
           
Huynh Trưởng Lê Công Cầu đang bị công an cộng sản vây bắt tại chùa Giác Minh Đà Nẳng)
Kính gởi: Ông Liên Thành
Nguyên Trưởng Ty Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Thừa Thiên.
Tác giả cuốn sách “Biến Động Miền Trung”.
 
Thưa Ông Liên Thành.
            Tôi nhớ rất rõ niên khóa 1969-1970 tôi vào học tại trường Đại Học Luật Khoa Huế, thì Liên Thành cũng đến học tại trường nầy. Vài sinh viên xì xào chuyện Ông Trưởng Ty Cảnh Sát đi học luật thì được thầy Hồ Khuê, Thư Ký Đại Học Đường, giải thích rằng Ông Liên Thành đi học năng lực luật tức là học cho biết luật để làm việc chứ không phải học cử nhân luật vì Liên Thành chưa có bằng tú tài. Tôi thật sự giật mình, giật mình vì những chức vụ trọng yếu của chính quyền mà giao vào tay những kẻ thiếu học chỉ dựa vào thế lực đảng phái để tiến thân thì sẽ là một thảm họa cho đất nước và thảm họa đã đến năm 1975 chứng minh rất đúng cho điều tôi suy nghĩ.
Sau bao năm chìm dần vào quên lãng thì đầu năm 2008 tôi đọc được sách “Biến Động Miền Trung” do Liên Thành viết được phổ biến trên các diễn đàn điện tử.
Sự ra đời của “Biến Động Miền Trung” trùng hợp vào thời điểm Hội Đồng Lưỡng Viện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ra Tuyên Cáo lên án Trung Cọng xâm lược 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, đồng thời lên án Đảng Cọng Sản Việt Nam đồng lõa với Trung Cọng qua Công hàm bán nước của ông Phạm văn Đồng ký năm 1958.
Sự trùng hợp nầy buộc lòng tôi phải đi đến hai suy nghĩ:
            1/ Tại Quốc Nội: 35 năm dưới chế độ độc tài toàn trị, Đảng Cọng Sản Việt Nam đã tước đoạt hoàn toàn mọi quyền tự do của con người, bán đứng biên cương, hải đảo của tổ quốc, dâng hiến cho ngoại bang tài nguyên đất nước và phế bỏ nền đạo lý dân tộc. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã công khai lên án chế độ Cọng Sản phi nhân và mở đầu công cuộc vận động giải trừ Quốc nạn nên đảng Cọng Sản đã tìm mọi cách để tiêu diệt thẳng tay hòng dập tắt phong trào đấu tranh cho dân chủ mà Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất là lá cờ đầu.
Nội dung cuốn “Biến Động Miền Trung” của Liên Thành đã Cọng Sản Hóa các phong trào đấu tranh của Phật Giáo, vu cáo các cuộc đấu tranh năm 1963, 1966 của Phật Giáo đều do Cọng Sản tổ chức và điều khiển, vu cáo các cấp lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất hoạt động cho Cọng Sản nhằm “phá rối” chính thể Việt Nam Cọng Hòa đưa đến thảm họa mất nước năm 1975.
Nội dung cuốn “Biến Động Miền Trung” của Liên Thành lại còn Phật Giáo Hóa biến cố Mậu Thân, vu cáo các cấp lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất là người trực tiếp chỉ huy các cuộc giết người đẫm máu và nhất là chôn sống hơn 5000 người dân vô tội vào mùa xuân 1968.
Với tội ác do Liên Thành dựng lên như thế tất nhiên Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất chẳng còn được ai tin tưởng, công cuộc giải trừ Quốc nạn của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất xem như bị vô hiệu hóa.
Cho nên Liên Thành viết “Biến Động Miền Trung” không ngoài mục đích tiếp tay với Đảng Cọng Sản Việt Nam trong việc tiêu diệt uy thế của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại quốc nội.
2/ Tại Hải Ngoại: 35 lưu lạc xứ người, ngày nay Cộng đồng người Việt hải ngoại đã tái lập được cuộc sống ổn định. Để có cuộc sống ổn định đó, họ đã đem sinh mạng của mình để đánh đổi tự do, chấp nhận vùi thây trên biển cả, bỏ xác giữa rừng sâu chứ không chấp nhận chế độ Cọng Sản nên họ đã ra đi, ra đi với nỗi lòng oán hận Cọng Sản vì đa số họ là dân quân cán chính Việt Nam Cọng Hòa.
Giữa lúc Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại đang ổn định và đoàn kết, tạo cơ hội cho việc yểm trợ phong trào đấu tranh dân chủ tại quốc nội thì “Biến Động Miền Trung” của Liên Thành ra đời. Với những vu cáo, bịa đặt để Cọng Sản Hóa các phong trào đấu tranh Phật Giáo và Phật Giáo Hóa biến cố Mậu Thân nhằm khơi dậy hận thù tôn giáo, đảng phái… Liên Thành đã làm phân hóa tinh thần đoàn kết của Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn
Như vậy Liên Thành viết “Biến Động Miền Trung” không ngoài mục đích tiếp tay với Đảng Cọng Sản trong việc tiêu diệt tiềm lực đấu tranh dân chủ hóa đất nước tại hải ngoại, tíếp tay cho việc thực hiện thành công Nghị Quyết 36 của Đảng Cọng Sản Việt Nam.
            Thưa Ông Liên Thành.
Cuộc tranh đấu của Phật Giáo năm 1963 và 1966 đã đi vào lịch sử, chính nghĩa của nó đã được cả cộng đồng dân tộc thừa nhận cho nên nó đã nằm yên trong ý thức của mỗi con người, không còn ai bàn cãi.
Biến Cố Mậu Thân 1968 cũng vậy, nó đã đi vào lịch sử, 25 ngày đêm chiếm Huế, Cọng Sản đã giết hại trên 5000 dân lành vô tội. Mỗi người dân đều ghi khắc tội ác nầy vì đó là sự kiện lịch sử, lịch sử đã phán xét, dù Liên Thành có tìm cách chạy tội cho chính mình, chạy tội cho Cọng Sản, đổ tội lên đầu Phật Giáo thì tội ác cũng không tránh được luật nhân quả muôn đời.
Vì thế sau khi đọc “Biến Động Miền Trung”, nhiều lần tôi muốn lên tiếng, nhưng khốn nỗi tôi đang ở Huế, ở cái nơi mà 35 năm qua quyền tự do ngôn luận của con người bị vùi dập cho nên tôi đành im lặng.
Nhưng tôi rất vui mừng vì đã có nhiều người lên tiếng, phân tích, lên án mục tiêu đen tối của sách “Biến Động Miền Trung”, tiêu biểu là 4 văn kiện quan trọng cảnh báo Liên Thành trước một tội ác với dân tộc và tôn giáo của mình:
1/ Về nội dung “Biến Động Miền Trung”: Ông Bảo Quốc Kiếm đã viết 37 bài “Liên Thành và Mắm Tôm”, phân tích tỷ mỷ cho độc giả thấy những dối trá, sai lầm, bịa đặt, vu cáo mà ông Liên Thành đã dựng lên để lật ngược lịch sử, hãm hại Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
2/ Về ảnh hưởng của “Biến Động Miền Trung”: Ông Định Nguyên đã viết bài “Hội Luận Hay Minh Họa” phổ biến tháng 11.2009 nói thẳng chủ tâm của Liên Thành chia rẽ cộng đồng, phá hoại tiến trình đấu tranh dân chủ hiện nay.
3/ Vể thái độ đối với “Biến Động Miền Trung” : “Bản Lên Tiếng của Ủy Ban Phối Hợp các Chánh Đảng tại Houston” ngày 28.7.2009 là lời buộc tội trực diện đối với Liên Thành qua chủ tâm khích động hận thù tôn giáo mà bao năm qua người dân Việt Nam chân chính ai ai cũng mong muốn hàn gắn vết thương lòng.
4/ Về trách nhiệm: Hoàng Tộc Triều Nguyễn đã chính thức ra thông báo ngày 29.9.2009 nêu rõ Liên Thành đã “tự tiện viết sách, tiếp tay phá hoại Phật Giáo Việt Nam cũng như chia rẽ phân hoá cộng đồng người Việt Hải Ngoại”. Hoàng Tộc Triều Nguyễn đã chính thức xin Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống kiêm Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN tha lỗi.
Chỉ chừng đó thôi cũng đã quá đủ để Liên Thành nhìn lại nhận thức và hành động của mình. Nhưng không, Liên Thành vẫn hung hăng khoác lác tổ chức hết buổi hội luân nầy đến buổi ra sách nọ với một nhóm người mẹ hát con khen vì họ thấy quyển sách “ly kỳ và hấp dẫn” đến độ che lấp hẳn sự thật mà nhóm người mù quáng kia không thể nhận ra.
Cao điểm là ngày 18.01.2010 Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ban hành Thông Tư về các bài viết trên Mạng vu cáo hàng lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Thông tư nêu rõ: “Qua bản Thông tư hôm nay Ban Chỉ đạo Viện Hoá Đạo kêu gọi chư Tôn đức Tăng Ni, Phật tử, đặc biệt ở hải ngoại có nhiều phương tiện thông tin, tìm kiếm tài liệu, hãy thu tập chứng liệu và tìm phương cách giải hoặc những bài viết hoặc do thiếu hiểu biết, hoặc cố tâm vu cáo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất theo các chủ trương tiêu diệt những sinh lực dân tộc, mà Phật giáo là một, cho những viễn đồ phi dân tộc và phản tổ quốc”.
            “Thông tư hôm nay là lần đầu tiên Giáo hội Trung ương lên tiếng, mà cũng là lần cuối cùng cất lên trước hiện trạng mạ lỵ kéo dài hàng chục năm bằng thứ ngôn ngữ khiếm nhã và lý luận hồ đồ. Không phải để đôi co mà là để phản bác những vu hãm đầy hậu ý đối với Giáo hội bấy lâu nay”.
Như có tật giật mình, ngay lập tức Liên Thành phổ biến bài “Sự Thật về Ông Thích Đôn Hậu” để phản bác Thông Tư của Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN. Với lời lẽ xấc xược, hàm hồ, Liên Thành đã nhân danh nguyên Chỉ Huy Trưởng Lực Lượng Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên xác quyết “Ôn Đôn Hậu là Cọng Sản”, “Ôn Đôn Hậu là cơ sở Tôn Giáo Vận của Cọng Sản từ trước năm 1963” và “Ôn Đôn Hậu là thủ phạm của Biến Cố Mậu Thân 1968”. Đồng thời Liên Thành nhiều lần đem tư cách, danh dự, trách nhiệm của một nguyên Chỉ Huy Trưởng Cảnh Sát Quốc Gia thách thức tranh luận đến cùng với bất cứ những ai cho rằng Ôn Đôn Hậu không phải là Cọng Sản. Và sau hết Liên Thành đem gia thế của mình ra khoe để chứng minh rằng mình không có viễn đồ phi dân tộc và phản bội tổ quốc như Viện Hóa Đạo qui kết.
           Thưa Ông Liên Thành.
Hôm nay, nhân ngày húy nhật lần thứ 18 của Đức cố Đệ Tam Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất: Đại Lão Hòa Thượng Thích Đôn Hậu, nhân danh là một Phật Tử Huế có mặt trong suốt những ngày Tranh Đấu đưa Bàn Thờ Ra Đường 1966 và chịu nỗi kinh hoàng trong Biến Cố Mậu Thân, tôi sẽ vạch cho Ông thấy cái viễn đồ phi dân tộc và phản bội tổ quốc ngay trong bài viết “Sự Thật Về Ông Thích Đôn Hậu” mà Ông là tác giả.
 
VIỄN ĐỒ PHI DÂN TỘC CỦA LIÊN THÀNH
 
1/ Liên Thành viết:
 “…Đầu tiên, có thể tóm tắt thân thế và sự nghiệp của Ông Đôn Hậu như sau:
…Năm 1963 đứng trong hàng ngũ lãnh đạo phong trào tranh đấu lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm và nền đệ nhất Cộng Hòa…”
Thưa Liên Thành: Lịch sử Phật giáo cận đại chưa bao giờ có một cuộc tranh đấu nào gọi là “tranh đấu lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm và nền đệ nhất Cọng Hòa” cả. Trong lúc cả dân tộc và thế giới đều biết cuộc tranh đấu của Phật Giáo năm 1963 nhằm đòi hỏi bình đẳng tôn giáo, hủy bỏ đạo dụ số 10, chống chính sách kỳ thị tôn giáo của chế độ gia đình trị họ Ngô. Hậu quả chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ là sự tất yếu của lịch sử do giới quân nhân và chính sách Hoa Kỳ chủ trương. Vậy mà Ông vu vạ cho Phật Giáo tranh đấu lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm và nền đệ nhất Cọng Hòa. Không phải do Ông dốt nát, thiếu hiểu biết mà do ông có ý đồ khích động lòng hận thù dân tộc. Vậy đây có phải là viễn đồ phi dân tộc không Liên Thành?
 
2/ Liên Thành viết:
 “…Cuối tháng 6 năm 1966 khi cuộc phản loạn của ông Trí Quang và đồng bọn tại miền Trung, đặc biệt tại Huế bị thất bại…”
Thưa Liên Thành: Trước hết xin minh định với ông phản loạn là gì? Phản loạn là những người nằm trong cùng một tổ chức, trong cùng đảng phái dùng bạo lực để chống lại lãnh đạo của họ. Phật Giáo chưa bao giờ nằm trong chính quyền, Phật Giáo chống chính quyền căn cứ trên quyền tự do dân sự của người công dân được Công ước Quốc tế về các Quyền dân sự và chính trị của LHQ bảo đảm đối với một chính quyền không đáp ứng nguyện vọng của toàn dân, sao Ông cho là phản loạn? Liên Thành ở Mỹ mấy mươi năm hẳn thường xuyên chứng kiến quyền này của người công dân Hoa Kỳ?
Cuộc tranh đấu 1966 mà ông gọi là Biến Động Miền Trung có chủ trương rất rõ ràng là đòi hỏi chế độ quân phiệt hiện tại phải tổ chức bầu cử một Chính Quyền Dân sự thật sự để có đủ khả năng vãn hồi hòa bình cho đất nước. Cuộc tranh đấu đã bị đàn áp khốc liệt vì người ta chụp mũ “bị Cọng Sản giựt dây”, nhưng chính nghĩa của nó không ai phủ nhận được, đó là sự ra đời của nền Đệ Nhị Cọng Hòa do ông Nguyễn Văn Thiệu làm Tổng Thống cho dù là Tổng Thống độc diễn và quân phiệt. Hơn thế nữa, những quân dân cán chính tham gia phong trào sau một thời gian bị câu lưu đều được phục hồi nguyên trạng, trở về phục vụ trong thể chế Cọng hòa, đó là sự xác nhận hùng hồn nhất của chính nghĩa đấu tranh mà cả chính quyền và nhân dân đều thừa nhận. Ông đi ngược lại quan điểm của toàn dân và ngay cả chính quyền Việt Nam Cọng Hòa mà ông đang phục vụ, cố tình vu vạ cho Phật Giáo, vậy có phải là viễn đồ phi dân tộc không ông Liên Thành?
 
3/ Liên Thành viết:
 “…Cho dù là các người này không thích chính quyền Miền Nam, nhưng họ phải chấp nhận rằng 2 chính quyền VNCH là chính quyền hợp pháp được đa số dân chúng tin nhiệm và giao phó trách nhiệm điều hành quốc gia. Dân chúng không giao quyền điều hành quốc gia cho ông Đôn Hậu, Trí Quang. Họ đã phản loạn đi rêu rao với quốc tế là chính quyền Miền Nam là chính quyền phi nghĩa. Họ đã chà đạp lên những lá phiếu của đa số dân chúng.
 “Như vậy, chiếu theo luật pháp các nước dân chủ, những người này, những kẻ gọi là phong trào Phật Giáo Tranh Đấu, mà thực chất là cộng sản lãnh đạo giật dây từ xa, cả ông Đôn Hậu Trí Quang, đã chà đạp lên kết quả 2 cuộc bầu cử, đã vi phạm luật pháp quốc gia, đã phản loạn theo địch”.
Thưa Liên Thành: Chính quyền của tất cả các nước dân chủ trên thế giới đều được bầu lên bằng lá phiếu hợp pháp của toàn dân. Nhưng không phải họ lên lãnh đạo đất nước là họ toàn quyền muốn làm gì thì làm, không ai được quyền phản đối. Vì thế luật pháp các nước dân chủ qui định quyền biểu tình để cho người dân bày tỏ thái độ khi chính quyền không đáp ứng nguyện vọng của người dân, cho nên tranh đấu, biểu tình là hợp pháp để tránh chế độ độc tài. Có luật pháp của nước dân chủ nào mà lạ lùng như ông dẫn thượng? Hay ông đem luật pháp Cọng Sản Việt Nam ra để chứng minh?
Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, dưới chế độ độc tài toàn trị, bao nhiêu người tranh đấu cho dân chủ, bao nhiêu người biểu tình lên án Trung Quốc xâm lược đã bị Đảng Cọng Sản Việt Nam bắt bỏ tù.
Trước đây ông đã từng là Trưởng Ty Cảnh Sát Quốc Gia, nay ông đang cư trú trên một đất nước tự do sao ông lại lý luận ngược dòng như thế. Trong khi toàn dân đang tranh đấu cho một thể chế dân chủ tự do thì ông lại buộc tội các phong trào tranh đấu Phật Giáo là chà đạp lên kết quả 2 cuộc bầu cử, là vi phạm luật pháp quốc gia, vô tình ông đã tán trợ cho chính sách đàn áp của Cọng Sản hiện nay. Đây có phải là viễn đồ phi dân tộc không Liên Thành?
 
4/ Liên Thành viết :
 “….Thưa, không dễ chối tội kiểu như vậy thưa ngài Đôn Hậu! Ngài có thể tâm sự nói thế này thế nọ với những người không biết gì hết hầu cận quanh ngài, nhưng tôi chắc ngài không thể chạy tội trước BCH/CSQG/TT/ HUẾ…”
Thưa Liên Thành: Đến đây thì tôi bổ ngửa. một ông Trưởng Ty Cảnh Sát Quốc Gia mà lại lầm lẫn giữa cơ quan an ninh và cơ quan tư pháp. Cảnh Sát là an ninh, an ninh có quyền bắt người khi có nghi vấn vi phạm luật pháp. Nhưng an ninh không có quyền định tội. Cơ quan định tội là cơ quan tư pháp tức là tòa án. Ngày nay tại Việt Nam bao nhiêu người bị giam giữ mà không cần đưa ra tòa xét xử, Công An đã thay thế luật pháp định đoạt thân phận các nhà đấu tranh. Vậy Ban Chỉ huy Cảnh sát Quốc gia Thừa thiên – Huế (BCH/CSQG/TT/HUẾ) định tội Ôn Đôn Hậu khi nào mà dám nói Ôn không thể chạy tội trước BCH/CSQG/TT/HUẾ? Sao giọng điệu của Liên Thành giống giọng điệu Cọng Sản thế. Có phải đây là viễn đồ phi dân tộc không Liên Thành?
 
LIÊN THÀNH NUÔI DƯỠNG CỌNG SẢN NẰM VÙNG, PHẢN BỘI TỔ QUỐC
 
Trang đầu tiên của bài “Sự Thật Về Ông Thích Đôn Hậu”, Liên Thành viết:
 “…Đúng là cộng sản, tôi đi đến cùng, triệt hạ thẳng tay, bất kể đó là chùa hay nhà thờ.
 “Núp bóng thế lực chùa hay nhà thờ để tạo sức mạnh hoạt động cộng sản, gây rối trị an, hoàn toàn không có giá trị gì với tôi cả…”
Và trong bài “Trịnh Công Sơn và những hoạt động nằm vùng” Liên Thành viết:
 “…Ông thân sinh tôi làm Cọng Sản thì tôi cũng bắt…”.
Thế nhưng chính Liên Thành đã nuôi dưỡng Cọng Sản nằm vùng phá hoại miền Nam Việt Nam cả pháp lý lẫn tinh thần, Liên Thành có dám nhận không?
 
VỀ PHÁP LÝ:
 
Liên Thành đã tạo pháp lý cho Cọng Sản nằm vùng hoạt động:
 
1/ Liên Thành viết:
“…Tôi nhớ không lầm thì đó là ngày 11/6/1966. Trời nhá nhem tối, tôi chỉ huy điệp vụ, đứng hơi xa hiện trường. Hai anh em Hoàng phủ Ngọc Tường từ nhà Chính, bên này cầu Phủ Cam, đi rất nhanh sang nhà Trịnh Công Sơn, bên kia cầu Phủ Cam. Trịnh Công Sơn đã có kế hoạch chuẩn bị trước cho hai tên này ăn cơm tối tại nhà. Sau đó, một chiếc xe hơi màu trắng đến đón Tường và Phan đi ngay.
“Tài xế là Lê Cảnh Đạm. Hộ tống là giáo sư Tôn thất Dương Tiềm. Họ lên chùa Thiên Mụ, và sau đó đi bộ vượt Long Hồ, Ngọc Hồ, vượt nguồn tả sông Huơng đến mật khu sau núi Kim Phụng.
“Chiếc xe hơi trắng đó là của bà Tuần Chi, tức Đào Thị Yến. Mậu Thân 1968, bà giữ chức vụ Phó Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Huế. Vài ngày sau, đã cùng một phái đoàn đông đảo trí thức miền Nam và Thượng Tọa Thích Đôn Hậu, mà theo sự theo dõi ghi nhận của CSQG Thừa Thiên - Huế, cũng là người tình của bà, thoát ly ra Bắc.(1)
 “Đó là lần đầu tiên mà lực lượng Cảnh Sát Đặc Biệt thuộc BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế phát hiện hành động tiếp tay cộng sản của Trịnh Công Sơn”.
Thưa Liên Thành: Ông chỉ huy điệp vụ, sự kiện diễn ra trước mắt Ông và trong tầm tay của Ông, sao Ông không bắt để trừ hậu họa cho dân chúng mà Ông để họ đào thoát lên rừng để Tết Mậu Thân họ về lại Huế giết hại dân lành như Ông nói. Ông đổ tội cho ai đây khi chính Ông thả cọp về rừng. Ông có đi đến cùng triệt hạ thẳng tay như Ông nói không? Hành động nầy có phải là hành động phản bội Tổ Quốc không Ông Liên Thành?
 
2/ Liên Thành viết:
 “…Trịnh Công Sơn tiếp xúc với VC nằm vùng trong giới trí thức, sinh viên, đặt biệt với một cán bộ quan trọng của cơ quan Thành ủy VC. Cán bộ đó là Lê Khắc Cầm, em ruột của giáo sư Lê Khắc Phò. Y sống hợp pháp trong thành phố Huế…”
Thưa Liên Thành: Ông biết rõ Lê Khắc Cầm là cán bộ quan trọng của cơ quan Thành Ủy VC, người chỉ huy trực tiếp Trịnh Công Sơn, sao Ông không bắt. Tôi là học trò của Thầy Lê Khắc Phò và Cô Lê Thị Liên, nên tôi hay đến thăm Thầy Cô tại ngôi nhà đường Đinh Công Tráng, thành nội Huế. Tại đây tôi thấy Lê Khắc Cầm sống ung dung cho đến ngày 30.4.75. Không những thế các cán bộ nằm vùng cọng sản mà Liên Thành đã liệt kê trong danh sách lại thường tới lui công khai với Lê Khắc Cầm. Vậy ai đã tạo điều kiện cho họ sống và hoạt động hợp pháp như Liên Thành viết? Với chức vụ Trưởng Ty Cảnh Sát thì chỉ có Liên Thành mới có thẩm quyền đó mà thôi. Vậy ai nuôi dưỡng Cọng Sản Nằm vùng đây Liên Thành? hành động đó có phải là phản bội Tổ Quốc không Liên Thành?
 
3/ Liên Thành không viết nhưng tôi biết:
Sinh Viên Huế không ai là không biết trụ sở Tổng Hội Sinh Viên số 4 đường Trương Định. Đây là nơi ăn ở và hoạt động công khai của một số cán bộ Cọng Sản nằm vùng như Phạm Thị Xuân Quế, Võ Quê, Hoàng Thị Thọ... Tại đây họ lên kế hoạch hoạt động và tiếp xúc thường xuyên với sinh viên các cấp. Tôi biết, sinh viên Huế biết, không lẽ Liên Thành không biết, biết sao không bắt?!
Thêm nữa, anh Trần Hoài, Chủ Tịch Sinh Viên tranh đấu Miền Trung mà Liên Thành biết rất rõ là Cọng Sản (trong bài Trịnh Công Sơn) tại sao Liên Thành không bắt mà để anh tung hoành như ở chỗ không người? Anh tổ chức các cuộc triển lãm Tội Ác Diệt Chủng Của Đế Quốc Mỷ ngay tiền sảnh Morin mà Liên Thành không hề đụng tới. Anh sống nhởn nhơ cho đến ngày Cọng Sản Cưỡng Chiếm Miền Nam ngay trước mắt Liên Thành. Vậy thì chính Liên Thành đã nuôi dưỡng lớp cán bộ nằm vùng nầy chứ không ai khác. Đây có phải là phản bội Tổ Quốc không Liên Thành?
Liên Thành đã biện minh rằng: “Có người hỏi tôi tại sao không bắt, tôi trả lời nếu bắt thì chỉ được một vốn một lời, tôi muốn một vốn mười lời cơ”. Và “mười lời”của Liên Thành là cái chết khủng khiếp của trên 5000 dân Huế trong Tết Mậu Thân do bàn tay của cán bộ Cọng Sản nằm vùng được Liên Thành nuôi dưỡng tạo nên. “Mười lời” của Liên Thành là mất nước với sự đóng góp to lớn của cán bộ Cọng Sản nằm vùng, trong đó có cán bộ Cọng Sản nằm vùng tại Huế do Liên Thành nuôi dưỡng góp công.
Hành động vừa ăn cướp vừa la làng nầy có phải là phản bội Tổ Quốc không Liên Thành?
 
VỀ TINH THẦN:
  Liên Thành tạo điều kiện cho việc đầu độc tinh thần bất khuất của Dân Tộc.
 
Liên Thành viết:
 “Bài ca dao trên cồn cát, trên ngai vàng quê nhà một thời ngủ yên tuổi xanh… rồi một hôm chợt thấy hoang vu quanh mình…”
 “Đó là bài nhạc phản chiến đầu tiên của Trịnh Công Sơn. Tác phẩm này được thai nghén trong một cái lò cộng sản nằm vùng, theo ý muốn của cộng sản Hà Nôi, thì dĩ nhiên nó là con đẻ của CS. Trong khi bao nhiêu thanh niên cùng trang lứa với Trịnh Công Sơn đang cầm súng chiến đấu tất bật, thì Trịnh Công Sơn không làm gì cả. Chỉ ăn xổi ở thì, đến nỗi chợt thấy hoang vu quanh mình, nên đi làm cộng sản
 “Sau nầy Trịnh Công Sơn viết nhạc nói về cuộc chiến theo nhu cầu đấu tranh tại đô thị của đám sinh viên, trí thức, hoạt động nằm vùng. Nhu cầu đó là làm tê liệt tinh thần bất khuất truyền thống của người VN, không muốn chiến đấu, bi quan nhu nhược, ỷ lại cầu an. Nhiệm vụ của Trịnh Công Sơn là chế ra những loại thuốc độc như thế!”
 
Thưa Liên Thành: Biết được như thế là rất tốt, nhưng Liên Thành đã làm ngược lại tất cả những gì Liên Thành nói.
Tại Huế, nhạc Trịnh Công Sơn bùng nổ mãnh liệt trong thời gian Liên Thành làm Trưởng Ty Cảnh Sát Quốc Gia (1966-1975), không một quán cà phê nào, không một tiệm ăn nào không có Khánh Ly hát nhạc Trịnh Công Sơn. Hai rạp chiếu bóng Hưng Đạo và Tân Tân bắt loa khuếch đại nhạc Trịnh Công Sơn để quảng cáo vang dội khắp kinh thành. Với tư cách Trưởng Ty Cảnh Sát, Liên Thành có biện pháp nào ngăn chận loại thuốc độc nầy không ? hay chính Liên Thành cũng mê nhạc Trịnh Công Sơn ?
Tôi nhớ rất rõ, ngày ấy tôi là Ủy Viên Tu Thư của Ban Hướng Dẫn Gia Đình Phật Tử Thừa Thiên, Đại Úy Cảnh Sát Lê Khắc Kỷ, Trưởng Phòng An Ninh Nội Bộ của Liên Thành lại là phụ tá của tôi cho nên tôi hay đến Ty Cảnh Sát tìm anh Kỷ để bàn bạc công việc. Mỗi lần như thế hai anh em dắt nhau xuống Câu lạc bộ cảnh sát (ngay trong khuôn viên Ty Cảnh Sát) để uống nước. Tại đây nhạc Trịnh Công Sơn vẫn dìu dặt như bao nhiêu con đường phố Huế. Và cũng tại đây tôi đã gặp nhiều anh em Cảnh Sát uống cà phê nghe nhạc Trịnh mà ấn tượng nhất với tôi là Đại Úy Ngô Quí Tửu, Trưởng Phòng Cảnh Sát của Liên Thành.
Liên Thành cứ hỏi hai Ông Đại Úy nầy (đang ở Mỹ) xem Lê Công Cầu có nói láo hay không.
Vậy thì ai tạo điều kiện cho nhạc Trịnh Công Sơn đầu độc tinh thần bất khuất của Dân tộc đây Liên Thành? Thậm chí Liên Thành lại còn đầu độc chính anh em Cảnh Sát của mình ngay tại Câu lạc bộ Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên Huế. Liên Thành làm sao chạy tội phản quốc đây?
 
LỊCH SỬ TÁI DIỄN:
 
Thưa Liên Thành: Văn bản “Sự Thật Vể Ông Thích Đôn Hậu” của Liên Thành làm tôi thật sự đau lòng.
Nếu Liên Thành không đem tư cách, danh dự và trách nhiệm của Nguyên Trưởng Ty Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên Huế ra thách thức thì chắc là tôi không lên tiếng làm gì.
Nếu Liên Thành không đem tư cách, danh dự và trách nhiệm của một Phật Tử ra để buộc tội Đức cố Đệ Tam Tăng Thống thì tôi cũng chẳng cần viết thư nầy.
Vậy Liên Thành và những người tán trợ cho sách “Biến Động Miền Trung”, những người đồng tình vu cáo Đức cố Đệ Tam Tăng Thống của chúng tôi là Cọng Sản xin hãy bình tâm suy nghĩ:
 
1/ Liên Thành là Trưởng Ty Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên Huế, là một công chức cao cấp của Chính Phủ Việt Nam Cọng Hòa, nhưng Liên Thành không hề trưng dẫn được một chứng liệu nào của Việt Nam Cọng Hòa buộc tội cố Hòa Thượng Thích Đôn Hậu là Cọng Sản. Ngay tài liệu giải mật của CIA Liên Thành cũng xem như vô giá trị. Từ đầu đến cuối Liên Thành hoàn toàn căn cứ vào lời khai của những cán bộ Cọng Sản nằm vùng nhất là Trung Tá tình báo Việt Cọng Hoàng Kim Loan. Đối với Liên Thành, lời khai của những cán bộ nằm vùng nầy là chân lý lịch sử, Liên Thành đã đặt niềm tin tuyệt đối vào những lời khai nầy. Lạ lùng thay cho một Trưởng ty Cảnh sát kiêm Tình báo viên như Liên Thành lại không biết thủ thuật công an mật vụ của Cộng sản ngay cả khi chúng sa cơ “vào tay giặc”nhằm sử dụng qua lời khai gây chia rẽ nghi ngờ phía đối phương ! Đây là một sai lầm do non yếu chính trị và nghiệp vụ của Liên Thành, người xem các lời khai của Trung tá cộng sản Hoàng Kim Loan như Thánh Kinh!
2/ Liên Thành là sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cọng Hòa, nhưng Liên Thành cũng không hề trưng dẫn được một tài liệu nào của Quân Đội quốc gia buộc tội cố Hòa Thượng Thích Đôn Hậu là Cọng Sản. Ngay tài liệu, hồi ký của các Tướng Lãnh Việt Nam Cọng Hòa, như Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Đỗ Mậu, v.v... Liên Thành cũng lờ đi nếu không cho là vô giá trị. Liên Thành chỉ tin vào lời khai của những cán bộ Cọng Sản nằm vùng và xem những lời khai nầy là giá trị tuyệt đối.
3/ Liên Thành nhân danh là một Phật Tử và tự xưng là người thân cận và hiểu biết Đức cố Đệ Nhất Tăng Thống Thích Tịnh Khiết hơn ai hết. Vậy mà khi vu cáo Hòa Thượng Thích Đôn Hậu là Cọng Sản thì Liên Thành không hề căn cứ vào một tài liệu nào của GHPGVNTN do Đức Đệ Nhất Tăng Thống lãnh đạo. Liên Thành chỉ căn cứ vào lời khai của Cọng Sản nằm vùng như Hoàng Kim Loan, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Đào Thị Yến, Đỗ Trung Hiếu... thậm chí còn dựa vào Tố Hữu, Nguyễn Văn Linh, Trần Bạch Đằng ra chứng minh lời vu cáo của mình là đúng. Đối với Liên Thành, lời khai của cán bộ Cọng Sản nằm vùng là tối thượng. Liên Thành tin tưởng tuyệt đối vào những lời khai nầy để khẳng định Hòa Thượng Đôn Hậu là Cọng Sản.
 
Thưa Liên Thành: Hoàng Tử Nguyễn Phúc Cảnh, con trai trưởng của Hoàng Đế Gia Long và là tổ nội 7 đời của Liên Thành được Giám Mục Bá Đa Lộc nuôi dưỡng từ khi 3 tuổi cho tới lúc trưởng thành. 17 tuổi về lại cố hương để phục vụ triều đình Nhà Nguyễn. Ngày bái yết tôn miếu xã tắc, Nguyễn Phúc Cảnh đã chỉ vào bàn thờ Thế miếu mà nói rằng đây là ma quỷ cả, ta không lạy, ta chỉ tin vào Thiên Chúa mà thôi.
Giờ đây Liên Thành đã chỉ vào mặt Chế Độ Việt Nam Cọng Hòa, chỉ vào mặt Quân Lực Việt Nam Cọng Hòa, chỉ vào mặt Tôn Giáo của mình, Thầy Tổ của mình để nói rằng đây là giả dối, ta không tin, ta chỉ tin vào lời khai của Cọng Sản nằm vùng mà thôi.
Hai sự kiện, hai thời điểm mà sao trùng lắp như cơn bệnh di truyền! Lịch sử đã tái diễn phải không Liên Thành?
 
LIÊN THÀNH DỐI TRÁ
Và sau cùng tôi vô cùng phẫn nộ khi Liên Thành viết:
            “…Cuối cùng, với trách nhiệm là một Phật Tử, tôi phải đặt đức công bằng lên trên tất cả những tai tiếng của các lãnh đạo tôn giáo của đạo mình, mà ngay chính cá nhân tôi, trong chỗ riêng tư, phần nào cũng muốn dấu bớt, vì xấu hổ…”
 
Thưa Liên Thành: Ông muốn giấu chuyện gì đây?
Phải chăng Ông đã giấu vai trò của Đại Đức Thích Chơn Kim, thế danh là Nguyễn Phúc Liên Phú, anh của Trưởng Ty Cảnh Sát Liên Thành. Liên Thành đã để Đại Đức Thích Chơn Kim ra ngoài sách “Biến Động Miền Trung”, không hề qui tội phản loạn hay cọng sản cho Đại Đức, trong khi Đại Đức là nhân vật cốt cán của Cuộc Tranh Đấu đưa Bàn Phật Ra Đường năm 1966.
Trong cuộc tranh đấu nầy, Đại Đức Thích Chơn Kim là Đặc Ủy Thanh Niên của Ban Đại Diện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Tỉnh Thừa Thiên, thay thế Đại Đức Thích Chánh Trực được bổ nhiệm ra Quảng Trị lãnh đạo Phong Trào Đấu Tranh.
Với chức vụ Đặc Ủy Thanh Niên, Đại Đức Thích Chơn Kim trực tiếp chỉ đạo 6 ngành Phật Tử trực thuộc Tổng Vụ Thanh Niên gồm có:
- Gia Đình Phật Tử Vụ
- Học Sinh Phật Tử Vụ
- Sinh Viên Phật Tử Vụ
- Hướng Đạo Phật Tử Vụ.
- Thanh Niên Phật Tử Vụ, và
- Thanh Niên Phật Tử Thiện Chí Vụ
Đây là lực lượng chính yếu của cuộc đấu tranh mà Đại Đức Thích Chơn Kim là người trực tiếp điều khiển. Khốn thay người trực tiếp điều khiển ấy lại là anh của Liên Thành.
Cho nên Liên Thành đã giấu nhẹm vai trò của Đại Đức Thích Chơn Kim để dễ bề vu cáo cuộc tranh đấu 1966 là phản loạn, vu cáo các cấp lãnh đạo GHPGVNTN trong cuộc tranh đấu 1966 là Cọng Sản, vu cáo cố Hòa Thượng Thích Đôn Hậu là Cọng Sản đội lốt thầy tu, là thủ phạm của Biến Cố Mậu Thân.
Liên Thành có chân thực không? Chỉ một bằng chứng nầy thôi cũng đủ tố cáo sự dối trá của Liên Thành với bao nhiêu điều dối trá khác trong sách Biến Động Miền Trung.
Hãy sám hối trước Giác linh của Đức Cố Đệ Tam Tăng Thống đi hỡi “Phật Tử” Liên Thành!
 
Viết tại Cố Đô Huế,
Nhân dịp húy nhật lần thứ 18 của Đức Cố Đệ Tam Tăng Thống GHPGVNTN - Phật Lịch 2553 Huế, Ngày 21 tháng 3 năm Canh Dần, 03.5.2010 - Nguyên Chánh LÊ CÔNG CẦU - Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử Việt Nam - 154 Phan Bội Châu - Huế
 
Kính xin được trình lên:
- Đức Đại Lão Hòa Thượng Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thăng Thống kiêm Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN.
- Đức Hòa Thượng Chánh Thư Ký Viện Tăng Thống GHPGVNTN.
- TT Tổng Thư Ký VHĐ kính xin chuyển đến PTT/PGQT xin phổ biến.
- VP II Viện Hóa Đạo GHPGVNTN
- HT Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Thanh Niên VHĐ/GHPGVNTN.
- Chư Tăng Chùa Linh Mụ Huế.
Mọi sự lưu hành sau khi được Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế phổ biến./.
 
-------------------------
 (1) Đọc đoạn văn chi ly do ông Trưởng ty Cảnh sát đồng thời là một điệp viên tình báo chỉ huy, điều khiển thử hỏi ai không tin cho được? Nhưng than ôi, trời bất dung gian, ông Cộng sản Huỳnh Phủ Ngọc Phan viết bài lật tẩy sự dối gạt của ông Liên Thành dưới nhan đề “Nhân đọc bài “Trịnh Công Sơn và những hoạt động nằm vùng” đăng trên Trang Nhà “Lề Bên Trái” của Nhà văn phản tỉnh Đào Hiếu (http://daohieu.com/website/?pg=cs&id=732) phản bác rằng: “Sự thực là chúng tôi không hề ghé nhà Trịnh Công Sơn ở đầu cầu Phú Cam mà ghé nhà anh Nguyễn Kim Sơn ở gần Bưu Điện Thành Phố Huế. (…) Cho đến lúc ấy và cả đến hôm nay, Nguyễn Kim Sơn chưa hề ở trong một tổ chức nào của cách mạng. Hiện anh sinh sống ở Cộng hòa Liên bang Đức và trước sau như một - là một phật tử thuần thành”.
Chúng tôi biên thư hỏi Giáo sư Đại học Huế Nguyễn Kim Sơn, hiện tị nạn cộng sản tại Cộng hòa Liên bang Đức. Giáo sư hồi đáp ngày 7.7.2009 như sau: “Chuyện Hoàng Phủ Ngọc Phan viết về Nguyễn Kim Sơn ở Huế “là hòan toàn đúng”. Chiếc xe chở 2 anh em Tường, Phan đến đia điếm “thoát ly” gần sau nhà thờ Phú Cam Huế là chiếc Borgward của tôi mua lại của anh Tôn Thất Tắc, nguyên Giám Đốc Học vụ miền Trung thời ông Diệm”. Hơn nữa Giáo sư Kim Sơn còn xác nhận rằng người lái xe hôm ấy là một Sĩ quan Việt Nam Cộng hòa.
Cứ so chiếu những sai lầm chết người được ông Trưởng ty Cảnh sát “khẳng định” bằng chính mắt ông “chỉ huy” điệp vụ như thế, khách bàng quang tự hỏi những chi tiết và sự kiện khác còn xa sự thật đến bao nhiêu?! (PTTPGQT chú).