Showing posts with label Tống phước Hiến. Show all posts
Showing posts with label Tống phước Hiến. Show all posts

Tuesday, December 31, 2019



ĐẠO PHÁP VƯƠN LÊN TỪ SUY THOÁI
Quảng Tuệ Tống Phước Hiến
*****
Nguyên nhân suy thoái

Là quốc gia đi chiếm thuộc địa để phát triển, thực dân Pháp đã cai trị thuộc địa bằng sức mạnh của vũ khí, ngục tù, thủ tiêu hay giết hại dã man. Mục tiêu khẩn cấp là loại trừ nguồn gốc và văn minh văn hóa của quốc gia bị chiếm đóng, thay vào đó là nền văn minh văn hóa đế quốc Pháp. Do nhu cầu thống trị, trước nhất họ phải cấp tốc đào tạo thông ngôn, thông dịch hầu dễ chuyển đạt mệnh lệnh bao gồm chữ viết và lời nói.

Bạn đồng hành với thực dân Pháp đi chiếm thuộc địa, là Thiên Chúa Giáo, bởi họ cũng có nhu cầu mở mang nước Chúa trên thế gian. Cả hai nhu cầu này đều trông cậy vào tiếng súng xâm lăng của đế quốc Pháp. Nếu Thực dân pháp cần thông ngôn, thì Đoàn Truyền Giáo cần hạt nhân làm gốc rễ. Hai thế lực nầy lại cũng có nhu cầu cấp thiết giống nhau là dùng tiếng Pháp làm phương tiện hành hoạt như đào tạo cán bộ, tuyển mộ binh sĩ, tuyên truyền đức tin, đoàn ngũ hóa giáo dân.

Nhiệm vụ cấp bách của Lực Lượng Truyền Giáo La Mã là xây dựng những giáo khu, quần tụ và sinh cư như một lãnh địa hành chánh chính trị dưới sự cai quản nghiêm ngặt của hàng giáo sĩ. Tại khu quần cư nầy, giáo dân phải thể hiện quyết liệt đoạn lìa tập quán dân tộc, thực hành và phục vụ nếp sống phù hợp với đức tin mới. Nhu cầu truyền đạo là cần phải tạo nên tập quán và ngôn ngữ mới, nhằm cũng cố đức tin, tuân phục tuyệt đối quyền năng Giáo Hội và Giáo Hoàng La Mã. Trong giai đoạn nầy, nhu cầu phát triển tín đồ của Giáo Hội Thiên Chúa Giáo La mã và nhu cầu của thực dân của Pháp là song hành, hỗ tương cho nhau. Dĩ  nhiên, dân tộc Viêt Nam và Phật Giáo Việt Nam là nạn nhân.

Theo một số tài liệu thì Giáo sĩ  Bá đa Lộc (Alexandre de Rhodes) dựa theo âm tiết tiếng Việt để ghép các chữ cái mẫu tự La tinh, tạo ra cách viết mới để làm phương tiện rao giảng giáo lý Thiên Chúa Giáo.

Nhưng theo trang mạng: "vi.wikipedia.org/wiki/Alexandre_de_Rhodes", thì chữ quốc ngữ Việt Nam hiện đang sử dụng, được hình thành nhờ công trình tập thể của các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và Ý, với sự trợ giúp của các giáo dân bản địa; mà công đầu là giáo sĩ Francisco de Pina. Khi Giáo sĩ  Alexandre de Rhodes đến xứ Đàng Trong thì tiếng Việt đã được Latin hóa với những dấu âm khá gần với chữ Quốc ngữ hiện nay. Alexandre de Rhodes thừa hưởng công lao từ những người đi trước. Ông có phổ biến chữ Quốc ngữ qua các tác phầm như là cuốn từ điển tiếng Việt đầu tiên được ấn hành. (theo Alexandre de Rhodes–Wikipedia tiếng Việt ).

Để thực hiện công cuộc xâm chiếm và thống trị, thực dân Pháp và triều đình nhà Nguyễn cho dạy ở học đường từ cấp sơ học đến tiểu học, đào tạo thông ngôn và thư ký cho người Pháp. Với sự đãi ngộ khá cao về tiền bạc vật chất lẫn quyền uy danh vọng, nhóm gọi là “Tây học” nầy vô tình tạo nên giai cấp trợ lực cho thực dân Pháp. Các khoa thi tuyển dụng cho quan trường nhanh chóng loại trừ văn sách Hán Nôm. Vì sự sống. sĩ tử đành phải theo học chữ Pháp.

Song song với chiến lược "Mũi Súng và lon gạo"; Giáo sĩ  Bá đa Lộc, linh hồn của đoàn truyền giáo công khai khích bác thóa mạ Phật Giáo trước Tòa giảng. Đó là bài giảng "Ngày Thứ Tư" trong Phép giảng tám ngày, rất ngây ngô và vô cùng khiếm nhã. Hiện các Giáo xứ Thiên Chúa Giáo Việt Nam vẫn lưu giữ, làm tài liệu giảng dạy. Vi lời văn bài giảng của Giáo sĩ Alexandre de Rhodes quá khiếm nhã, nên chúng tôi chỉ trich một đoạn rất ngắn, nếu muốn đọc thêm, xin vào địa chỉ trang trích kèm theo: "Như thể có chém cây nào đúc (?) cho ngã, các ngành cây ấy tự nhiên cùng ngã với. Vậy thì ta làm cho Thích Ca, là thằng hay dối người ta, ngã xuống, thì mọi truyện dối trong đạo bụt bởi Thích Ca mà ra, có ngã với thì đã tỏ".(Phép giảng tám ngày: kholuu.files.wordpress.com/2015/07/phep_giang..)tòa thánh La Mã cho xuất bản năm 1651 nhà in của Thánh bộ Truyền giáo tại La Mã.

Điều nầy ảnh hưởng nặng nề đến Phật Giáo, vì thời bấy giờ kinh sách Phật giáo được viết bằng chữ Hán. Vì không đọc được kinh sách bằng chữ viết mới, nên Phật Tử xa rời kinh điển. Đó là lý do khiến Đạo Phật bị mai một, bị suy thoái, Phật Giáo đồ không hiểu lời Phật dạy để áp dụng trong đời sống. Yếu tố nầy tạo điều kiện cho nhóm người phi đạo đức, lấy kinh Phật làm nghề sinh sống. Từ  ý nghĩa Kinh Phật là lời giáo huấn, nhóm thầy cúng, thầy bói, thầy pháp biến kinh điển Phật giáo thành bùa chú, cúng bái, mê tín dị đoan. Đạo Phật bị biến thành tôn giáo thần quyền, cầu giải tội, cầu vinh thăng. Toàn quốc không có được một ngôi trường Phật học.

Dụ số 10, là phương tiện pháp lý khác để thực dân Pháp hay Nam Triều tấn công Phật giáo. Xếp Phật giáo như là một Hiệp hội. Vì là Hiệp hội, nên mọi công việc Phật sự, dù là Đại Lễ Phật Đản Sanh cũng phải xin phép chính quyền. Phật giáo thời bấy giờ bị kỳ thị và suy thoái tột độ!. Lâu dần, thầy tụng cũng cạo đầu, cũng áo Cà Sa, lấy chuyện tụng kinh cúng đám làm kế sinh nhai.

Phong Trào Chấn Hưng Phật Giáo Việt Nam ra đời - 1920

Phật-giáo Việt Nam bị suy thoái trầm trọng, đưa đến tiền đồ tăm tối, nếu từ hàng Tu Sĩ đến Thiện Trí Thức Cư Sĩ ngại ngùng không dấn thân. Nhìn sang Phật Giáo các nước lân bang như Trung quốc, Đài Loan, Nhật bản… họ đều tĩnh giác trước tiền đồ Phật Giáo quê hương họ, Phật học của quốc gia họ. Điển hình là Phong trào Chấn Hưng Phật giáo ở Trung Hoa, do báo Hải Triều Âm cổ xúy. Bắt  đầu từ năm 1920, chư Tôn Trưởng Lão Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức họp lực với một số Cư Sĩ Thiện Tri Thức tiến hành chương trình Chấn Hưng Phật giáo, mở các trường Phật Học tại các tư gia hoặc chùa viện cổ tự để đào tạo Tăng tài, và thuyết pháp để các tín hữu hiểu biết về những vần đề căn bản của Phật Giáo. Nhờ vậy, Phật Pháp dần dần thấm nhuần, tư tưởng thâm sâu vi diệu của Phật Giáo chuyển hóa quan điểm cá nhân Phật tử trong cuộc sống. Phật Pháp giúp giải quyết những nghi vấn, giúp con người được bình an, tạo nên thế giới an lạc, tin yêu, hòa đồng, hòa bình. Tình thương không chỉ con người với con người mà đến cả muôn vật, mọi loài.

Phật Giáo thâm nhập, chinh phục các nhà khoa học, học giả, tầng lớp trí thức phương tây. Sự cảm phục từ những bậc thức giả nầy đã làm cho những nhà lãnh đạo và thiện trí thức của các dân tộc đã có niềm tin về đạo Phật nhận trách nhiệm dấn thân hoằng bá Giáo Pháp Như Lai. Những học giả Phật Giáo nghiên cứu trở lại giáo lý Phật Đà với tất cả nhiệt tình. Đó là một trong những động cơ lớn thúc đẩy phong trào Chấn Hưng Phật Giáo ở các nước Á châu.

Tại Việt Nam, phong trào Chấn Hưng PhậtGiáo chịu tác động thúc bách mạnh mẽ từ những phong trào Chấn Hưng Phật Giáo ở nhiều nước như Ấn Độ, Tích Lan, Nhật Bản và đặc biệt là từ Trung Quốc mà Thái Hư Đại sư, nhân vật lịch sử của Phật giáo thế giới đã góp đại nguyện. Chính Đại sư là người khởi xướng và chỉ đạo cuộc vận động của Chấn Hưng Phật Giáo thời cận và hiện đại. Tư tưởng và Hành động, Trí tuệ và Đức hòa của Đại sư ảnh hưởng đến tín đồ Phật giáo thế giới, nhất là tại Việt Nam.

Khởi động hành trình
Sau thời gian chữ Hán bị chữ Quốc ngữ lấn át trong nhiều sinh hoạt liên quan đến văn tự. Đến cuối thế kỷ XIX sự phát triển của chữ Quốc ngữ đã điều chỉnh những trở ngại do ngôn ngữ tác động. Từ trở ngại, chữ quốc ngữ trở thành phương tiện truyền đạt hữu hiệu. Vì nhu cầu thực tại, các văn bản, tác phẩm vốn được viết bằng Hán tự, được dần dần chuyển dịch sang chữ Quốc ngữ. Các kinh sách Phật giáo cũng theo phong trào chuyển dịch nầy. Nhờ vậy, triết lý và Thiền học Phật giáo được chư Tăng và chư Thiện tri thức biên soạn được phổ cập trên những cơ quan truyền thông đại chúng, mở đầu và tạo điều kiện cho Phong Trào Chấn Hưng Phật Giáo khởi diễn.

Từ đầu thập niên 1920, những bài viết của các vị Tăng sĩ và Thiện tri thức Cư sĩ Phật Giáo được đăng tải trên một số báo. Đây là dấu hiệu mở đầu cho Phong Trào Chấn Hưng Phật Giáo Việt Nam. Thời gian nầy, xuất hiện bài viết: “NÊN CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO Ở NƯỚC NHÀ” của ông Nguyễn Mục Tiên đăng trên tờ Đông Pháp Thời Báo số 529 ngày 05.01.1927 với nội dung Phật Giáo cần phải được chấn hưng, vì Phật Giáo đã góp phần lớn trong nền đạo đức dân tộc. Trong lúc đất nước đang trãi qua những biến cố ảnh hưởng đến Dân tộc thì Phật Giáo cần phải cấp tốc chấn hưng hầu đáp lại nhu cầu của lịch sử. Tác giả kêu gọi các bậc thức giả hãy góp ý kiến nhằm chấn hưng Phật giáo.

Đáp lời kêu gọi, cũng trên tờ Đông Pháp Thời Báo số 532 ngày 14.05.1927 Nhà Sư Thiện Chiếu, một học giả Phật giáo, thông rành Pháp, Việt và Hoa ngữ, đang làm Giáo Thọ tại Linh Sơn Tự (Sài Gòn) nêu nguyên nhân chủ yếu khiến Đạo Phật lâm vảo cảnh suy thoái là vì giới Tăng Sĩ không chuyên tâm nghiên cứu kinh sách, không làm tròn trách vụ Trưởng Tử Như Lai, khiến nên tín đồ Phật tử đến chùa là để cầu xin ơn phước; vì vậy đạo Phật bị xem như là loại tín ngưỡng mê tín. Sau khi nhận định và phân tích, Ngài đề nghị ba phương cách để chấn hưng Phật giáo như sau:

1/ Lập Phật Học Báo Quán để truyền bá giáo lý và lần hồi xóa bỏ mê tín.
          2/ Lập Phật Gia Công Học để đào tạo nhân tố đi Hoằng Pháp lợi sinh.
          3/ Dịch kinh tụng sang kinh nghĩa để Phật tử hiểu và hành đạo.

Trên tờ Khai Hóa Nhật Báo số 1640 ra ngày 16.01.1927 Tỷ kheo Tâm Lai, trụ trì chùa Tiên Lữ (chùa Hang), làng An Thái, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên Bắc Việt có bài kêu gọi chấn hưng Phật Giáo với chương trình ba điểm:

1) Lập giảng đường trong chùa.
2) Các chùa mở các trường từ Sơ học yếu lược, đến Sơ đẳng tiểu học, mời các thầy bên ngoài vào dạy, mỗi buổi học có thêm 10 phút giảng kinh Phật.
3) Lập nhà nuôi và dạy nghề cho người nghèo khó, đơn chiếc, tàn tật. Đồng thời lập các nhà cô nhi nuôi dạy trẻ mồ côi.

Hoàn cảnh lịch sử bấy giờ tạo nên một số khác biệt khó vượt qua như địa phương tính, ngôn ngữ, phong tục, giai cấp cá nhân trong xã hội…Những người khởi xướng Phong Trào Chấn Hưng Phật Giáo chưa có được sự thống nhất nên ý chí cũng như sự phấn khích ban đầu có phần trầm lắng. Đến các năm 1932-1933, phong trào Chấn Hưng Phật Giáo ở miền Bắc được các vị Tăng sĩ như Ngài Trí Hải, Thái Hòa, …khởi động lại. Cùng thời gian nầy tại miền Trung, Phong trào Phật Hóa Phổ tiền thân của Gia Đình Phật Tử ngày nay ra đời do Quý Thiện Trí Thức Cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám, Lê Toại, Nguyễn Hữu Kha, Trần Văn Giác,,... kiến lập.
         
Các Tổ Chức Tiên Khởi

Các trường giảng dạy Phật học được tổ chức ở khắp ba miền, tập trung tại các chùa lớn, đào tạo “Tăng Ni Sinh”. Một số tạp chí nghiên cứu và quảng bá Phật Học như Pháp Âm, Quan Âm, Tam Bảo, Tiếng Chuông Sớm, Duy Tâm, Tiến Hóa lần lượt xuất hiện .

Năm 1932 Cư sĩ Đoàn Trung Côn một học giả Phật Tử thành lập nhà xuất bản Phật Học Tùng Thư. Trong giai đoạn này số kinh sách có tính cách giáo khoa truyền giảng kiến thức căn bản như Phật Giáo Vấn Đáp, Phật Giáo Giáo khoa Thư, và những kinh bản bằng Quốc ngữ như Kim Cương, Pháp Hoa, Lăng Nghiêm được in ấn và phổ biến.

Các bậc Cao Tăng , các vị Thiền Sư như các Ngài: Trí Hải, Tố Liên, Giác Tiên, Phước Huệ… và những nhân sĩ Thiện tri thức như các cụ Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, Thiều Chửu, Nguyễn Trọng Luật, Lê Dư, Nguyễn văn Tố, Nguyễn Hữu Kha, Nguyễn Xuân Chữ, BS Lê Đình Thám, Ưng Bình, Viễn Đệ, Mai Thọ Truyền, Nguyễn văn Thục… tùy theo hoàn cảnh để xiển dương Chánh Pháp góp phần rất lớn trong phong trào Chấn Hưng Phật Giáo.

I/ Miền Bắc:

Ý thức phải tiến tới Phong trào Chấn Hưng Phật Giáo, tại miền Bắc bắt đầu từ năm 1932. Nhưng đến năm 1934, Hội “Bắc Kỳ Phật giáo Tổng Hội” mới được ra đời tại Hà Nội, trụ sở đặt tại chùa Quán sứ, do cư sĩ Nguyễn Năng làm hội trưởng, Hòa ThượngThích Thanh Hanh làm Pháp chủ, Thượng Tọa Trí Hải làm cố vấn. Nòng cốt gồm các cư sĩ trí thức tân và cổ học như Sở Cuồng Lê Dư, Nguyễn Hữu Kha, Bùi Kỷ, Nguyễn Năng Quốc, Trần Trọng Kim, Cung Ðình Bính, Trần Văn Giáp, Nguyễn Can Mộng, Nguyễn Ðỗ Mục, Nguyễn Văn Tố... Tờ báo Ðuốc Tuệ là cơ quan truyền bá Giáo lý Phật giáo số ra mắt vào ngày 10.12.1935. Sau đó là Bồ Đề Tân Thanh và Tiếng Chuông Sớm. Tạp chí Đuốc Tuệ bị đình bản sau khi ra số chót là 257 - 258 ngày 15.8.1945. Để tiếp tục quảng bá Giáo Pháp, các Ngài Trí Hải và Tố Liên cho xuất bản tạp chí Tinh Tiến song song với tờ Giải Thoát ở Huế.

Năm 1949 Hòa Thượng Tố Liên về trụ trì chùa Quán Sứ củng cố lại Hội Việt Nam Phật Giáo, cùng với Tổng Thư Ký cư sĩ Viên Quang, thành lập cô nhi viện nuôi dạy 160 cô nhi. Đồng thời, thành lập Hội Tăng Ni Chỉnh Lý Bắc Việt, trụ sở đặt tại chùa Quán Sứ, xuất bản bán nguyệt san Phương Tiện, và mở ấn quán Đuốc Tuệ, tại số 73 phố Quán Sứ Hà Nội do cư sĩ Nguyễn Đình Dương quản lý. Ngày 02.08.1949, Hội khai giảng khóa học cho Tăng sinh nam tại Phật học đường Quán Sứ. Bốn ngày sau, một khóa học dành cho 50 Ni sinh tại Phật học đường Văn Hồ, do Ni sư Đàm Soạn và Đàm Đậu chịu trách nhiệm. Năm 1950 Hội đổi tên thành Hội Phật Giáo Tăng già Bắc Việt và suy thỉnh thiền sư Thích Mật Ứng làm Thiền Gia Pháp Chủ.

II/ Miền Trung

Thiền Sư Phước Huệ khởi xướng Phong trào chấn hưng Phật Giáo tại miền Trung. Thời bấy giờ tại miền Trung có hai tổ chức là:

1/An Nam Phật học Hội do Hòa Thượng Giác Tiên làm Chứng Minh Đạo Sư và cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám Hội Trưởng sáng lập năm 1932; trụ sở đặt tại chùa Từ Đàm. Tạp chí Viên Âm số đầu tiên ra ngày 01.12.1933 làm phương tiện hành hoạt. Về sau, An Nam Phật học đổi thành Hội Việt Nam Phật học do cư sĩ Lê Văn Định làm Hội Trưởng. Năm 1935 Hội thành lập Phật Học Đường tại chùa Báo Quốc để đào tạo Tăng tài. Năm 1945, Phật Học Đường nầy dời về Tòng Lâm Tu Viện Kim Sơn. Một số những nhà lãnh đạo cao cấp của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất như Hòa Thượng Thích Thiện Minh, Thích Trí Quang,Thích Thiện Siêu, Thích Trí Tịnh, Thích Trí Thành, … xuất thân từ Học Viện nầy. Năm 1949 Hòa thượng Thích Tịnh Khiết được thỉnh cử làm Tùng Lâm Pháp Chủ. Hội mở nhiều chi hội ở các Tỉnh, Quận, Xã khắp cả miền Trung. Về sau đổi tên là Hội Phật Học Trung Việt. Năm 1934 Hội xuất bản tạp chí Viên Âm để hoằng dương chánh pháp. Hội thành lập Gia đình Phật Hóa Phổ tiền thân Gia đình Phật tử hiện nay và lập Trường Bồ Đề đầu tiên tại Thành nội Huế.

2/ Hội Sơn Môn Tăng Già Thừa Thiên hoạt động từ cuối 1946 dưới sự điều hành của hai thiền sư Mật Hiển trụ trì chùa Trúc Lâm, và thiền sư Mật Nguyện trụ trì chùa Linh Quang. (xin đừng nhầm lẫn với “Cổ Sơn Môn” do chế độ ông Ngô đình Diệm thành lập để dùng Phật giáo diệt Phật giáo xảy ra năm 1963 khi Phật Giáo đòi quyền bình đẳng tôn giáo)

III/Miền Nam

Năm 1920, những bậc cao Tăng thạc đức thành lập “Hội Lục Hòa” mục đích là đoàn kết và vận động Phong trào Chấn Hưng Phật Giáo. (Không phải Giáo Hội Lục Hòa Tăng hay Cổ Sơn Môn do chế độ ông Ngô đình Diệm thành lập để dùng Phật giáo diệt Phật giáo xảy ra năm 1963 khi Phật Giáo đòi quyền bình đẳng tôn giáo.)

-Tháng Giêng, năm Kỷ Tỵ (1929), Tổ Khánh Hòa đích thân đi vận động hầu hết các Chùa lớn ở miền Nam. Sau đó, Ngài thành lập phái đoàn, cừ Sư Thiện Chiếu hướng dẫn, ra Trung và Bắc để vận động Phong trào Chấn Hưng Phật Giáo. Tổ là vị đầu tiên và có công lớn nhất trong Phong trào Chấn Hưng Phật Giáo ở miền Nam nói riêng và Việt Nam nói chung. Để đẩy phong trào Chấn Hưng Phật Giáo đạt được những thành quả tốt, Ngài cho xuất bản tạp chí Pháp Âm. Tiếp đến, Sư Thiện Chiếu cho xuất bản tờ Phật Hóa Tân Thanh Niên chủ yếu là nhắm đến tầng lớp thanh niên Tăng, Ni và Phật tử. Đây là hai tờ báo viết bằng chữ quốc ngữ đầu tiên của Phật Giáo miền Nam, mở đầu cho những tạp chí Phật Giáo miền Nam sau nầy. Ngoài hai tờ báo nói trên, sư Thiện Chiếu còn cho xuất bản một số sách thuộc loại Phật học tùng thư.

- Năm 1930 Thiền Sư Từ Phong thành lập Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học trụ sở tại chùa Linh Sơn Sài Gòn. Tờ Từ Bi Âm, tòa soạn đặt tại chùa Long Phước là cơ quan ngôn luận của Hội ra mắt vào ngày 01.03.1932.

- Năm 1931 Hòa Thượng Huệ Đăng chùa Thiên Thai, thành lập Thiên Thai Thiền Giáo Tông Thiện Hữu Hội và cho xuất bản tạp chí Bát Nhã Âm làm cơ quan truyền bá giáo lý Phật Đà của Hội.

- Năm 1933, Những Đại Tăng như Tổ Khánh Hòa, Hòa Thượng Viên Giác (Bến Tre) Huệ Quang (Trà Vinh), Khánh Anh, Pháp Hải, Hòa Thượng Chánh Tâm (Vĩnh Long), Hòa Thượng Viên Giác…và các Phật tử của các chùa trên, thành lập Liên Đoàn Học Xã. Mục đích của Liên Đoàn là để đào tạo Tăng tài và hoằng dương chánh pháp. Đây là một Phật Học Đường tuần hòan và liên tục. Mỗi chùa phải đài thọ chi phí 3 tháng; ban ngày dạy học, ban đêm thuyết pháp.

-Năm 1934 Hội Lưỡng Xuyên Phật học tại Trà Vinh ra đời muc đích đào tạo Tăng tài, hoằng dương chánh pháp. Hai Cư sĩ Ngô Trung Tín và Huỳnh Thái Cửu cúng cho Hội bộ Đại Tạng Kinh và Tục Tạng Kinh để làm tài liệu nghiên cứu. Năm 1935 Hội mở Phật Học Đường Lưỡng Xuyên đào tạo Tăng, Ni (về sau trường Ni dời về chùa Vĩnh Bữu ở thôn Bến Tre)

- Năm 1934, Sư Lê Phước Chí (không rõ Pháp hiệu) trụ trì chùa Thiên Phước ở Sóc Trăng, xướng lập Hội Phật Giáo Tương Tế, xuất bản tạp chí Bồ Đề đặt trụ sở tại Sóc Trăng, số đầu tiên ra ngày 15-08-1936  và sau khi ra số kế tiếp ngày 15-09-1936 thì đình bản.

-Năm 1934 Cư sĩ Minh Trí thành lập Hội Tịnh độ Cư sĩ tại Chợ Lớn dành cho giới cư sĩ, chọn phương pháp Phước Huệ song tu lấy pháp môn niệm Phật làm căn bản, mỗi chùa có một phòng thuốc Nam để hốt thuốc chữa bệnh miển phí cho đồng bào.

-Năm 1936 Hòa thượng Trí Thiền và Sư Thiện Chiếu thành lập Hội Phật Học Kiêm Tế. Năm 1938 Hội cho xuất bản tạp chí Tiến Hóa trụ sở Hội và tòa soạn đều tại chùa Sắc Tứ Tam Bảo. Hội chủ trương mở cô nhi viện, lớp học bình dân.

- Năm 1951 Giáo Hội Tăng già Nam Việt do Hòa thượng Đạt Thanh làm Pháp chủ và Hòa thượng Đạt Từ làm Trị sự trưởng, trụ sở tại chùa Ấn Quang. Và Hội Phật học Nam Việt được thành lập trụ sở tại chùa Khánh Hưng sau dời về xây xây chùa Xá Lợi.

IV/ Hợp Nhất Phật Giáo Ba Miền

Trong chiến tranh đánh đuổi thực dân Pháp (1946-1950) các cơ sở Phật giáo trên toàn quốc hầu như bị tan rã. Nhưng khi tình hình chiến sự lắng dịu thì các nhà lãnh đạo Phật Giáo khôi phục và tổ chức lại như sau:

Mỗi Miền có 2 tập đoàn: Một tập đoàn Tăng già lo việc chư Tăng và lãnh đạo tinh thần cho tập đoàn Cư sĩ. Tập đoàn Cư sĩ lo việc cư sĩ và ngoại hộ cho Tăng già hoằng dương chánh pháp. Sáu Tập đoàn nầy gồm:

-Bắc Việt có: Hội Tăng Già Bắc Việt và Hội Việt Nam Phật Giáo Băc Việt.
-Trung Việt có: Hội Tăng Già Trung Việt và Hội Phật Học Trung Việt
-Nam Việt có: Hội Tăng Già Nam Việt và Hội Phật Học Nam Việt.

Để tập hợp Phật Giáo ba miền Bắc, Trung, Nam Việt Nam, sáu tập đoàn Phật Giáo tổ chức Đại Hội Phật Giáo toàn quốc nhóm tại Huế từ ngày 06 đến 09.05.1951, có 51 đại biểu gồm Tăng già và Cư sĩ để thành lập “Tổng Hội Phật giáo Việt Nam”. Đại hội suy thỉnh Hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm Hội trưởng. Chức Thượng Thủ và Giám luật luân chuyển giữa các Miền. Đức Đệ nhất Thượng thủ là Hòa thượng Thích Tuệ Tạng ở miền Bắc. Tuy nhiên Tổng hội chỉ là một tổ chức nặng tính chất hình thức, không có quyền điều hành kiểm soát. Mỗi hội viên vẫn hoạt động riêng biệt. Bên ngoài Tổng hội Phật giáo Việt Nam vẫn còn những tổ chức Phật giáo khác hoạt động.

                           

Saturday, November 23, 2013


                             Phố Tàu trên Đất Việt

Tàu cộng và Việt cộng dùng thuật ngữ “tôn trọng chứng cứ pháp lý, xem xét các yếu tố liên quan lịch sử, tôn trọng cuộc sống đã được ổn định của dân chúng, chiếu cố quan ngại của nhau…để từng bước Tàu cộng, Việt cộng thỏa hiệp và thi hành việc cướp nước và bán nước. Để tạo cho cái gọi là sự kiện lịch sử, chứng cớ VN là lãnh thổ của nước Tàu. Tàu cộng đã dàn cảnh cho hai tên lãnh đạo cao cấp nhất của chúng là Giang Trạch Dân đến tắm tại Hội An Đà nẳng vào ngày 27.02,20002 và Hồ cẩm Đào vào tháng 11-2006 . Chọn lựa Hội an Đà Nẳng để tắm, tất nhiên Lãnh tụ Tàu cộng mặc nhiên khẳng định: Hoàng Sa là đất của Tàu và biển vùng Ðà Nẳng là biển của Tàu. Giang Trạch Dân, Hồ cẩm Đào đi đến Ðà Nẳng và Hội An là đi thăm viếng vùng đất thuộc chủ quyền của chúng, chớ không phải đi thăm viếng một địa phương của nước VN. Tắm biển Hội an Đà Nẳng mang ý  nghĩa là tắm biển Trung Quốc "ta về ta tắm ao ta". Sự kiện Giang Trạch Dân và Hồ cẩm Đòa phơi mình trên biển Hội An, là Giang Trạch Dân và Hồ cẩm Đào muốn long trọng tuyên bố quyền của Bắc kinh trước thế giới và chư hầu Hà Nội.

          Tàu cộng và Việt cộng hợp pháp hóa hành động cướp nước và bán nước bằng cách thực hiện cái gọi là chứng cứ lịch sử xong. Bây giờ là chứng cứ về dân cư và cuộc sống thực tế mà Tàu cộng và Việt cộng hai bên chiếu cố quan ngại của nhau. Chứng nầy được gọi là những khu phố Tàu trên đất Việt.

          Sau ba ngày 2,3,4/9/1008 thương nghị giữa Tàu cộng và Việt cộng tại Thành Đô, kế hoạch tiệm tiến xâm thực của Tàu cộng và bán nước của Việt cộng được diễn tiến như sau:

         1/ Ngư dân VN bị Tàu cộng ngăn cấm, bắt giữ, đánh đập, phạ vạ, tịch thu, giết chết khi hành nghề trong khu vực thuộc chủ quyền của VN.

          2/ Người dân biểu tình phản đối 9 đoạn lưỡi bò xâm lăng của Tàu cộng thì bị công an và côn đồ Việt cộng đàn áp đã man, đánh chết, bị tuyên những bản án nặng nề. Những biểu ngữ rất bình thường và ôn hòa “Trường Sa, Hoàng Sa của Việt Nam hay No U bị xem là tang chứng để truy tố và định tội.

          3/Tàu cộng được vào sâu trong lãnh thổ VN để khai thác rừng phía bắc tỉnh Quảng nam, bauxite và titan cao nguyên Trung phần . Chủ trương nầy của CSVN đã mở đường cho hàng vạn người Trung Quốc, dự kiến có khoảng 20 ngàn công nhân Trung Quốc, sẽ vào làm việc tại Tây Nguyên. Cùng đi với đoàn người Tàu dưới ngụy thức chuyên gia, công nhân lao động là cơ quan An ninh mật và gián điệp và quân lính Tàu.

          4/Tàu cộng trúng thầu hầu hết các công trình xây dựng hay đầu tư tại VN

          5/Những con đường huyết mạch nối liền lãnh thổ hai nước như Lạng Sơn – Hà Nội, Móng Cái – Hạ Long, Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng được kiến tạo thành đường cao tốc, hay đường sắc, những con đường nầy sẽ được thông suốt đến những nơi Tàu cộng có cở sở trúng thầu .

       A-./Sự kiện:

         I/- Miền Bắc Việt Nam:  

          1/ Hà Nội: Tuy mật độ quần cư của người Tàu chưa đến mức hình thành phố Tàu, song sự phát triển  Hoa ngữ phổ biến, nên hệ thống ATM của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam vừa bổ túc thêm tiếng Tàu bên cạnh Việt và Anh ngữ.

          2/ Hải Phòng: Khi các công ty Tàu cộng trúng thầu xây nhà máy nhiệt điện Hải Phòng 1 ở xã Tam Hưng, huyện Thủy Nguyên, thì hàng ngàn công nhân Tàu ồ ạt kéo sang để xây nhà máy. hàng trăm quán bia, tạp hóa, quán nhậu, quán karaoke, mát-xa, cà phê, nhà trọ… với các bảng hiệu đều viết bằng chữ Tàu. Số lượng công nhân Tàu làm việc tại nhà máy này là bao nhiêu người, có giấy phép hay không thì gần như không cơ quan nào nắm được. Một số bọn nầy đã được cưới vợ VN.

           3/Thành phố Hạ Long:  Báo Khám Phá ra ngày Thứ Sáu 12-7-2013 với tựa đề “Hạ Long: Phố ta hóa… phố Tàu” .cho biết, tuyến đường du lịch mang tên Hạ Long chạy dọc bãi biển Bãi Cháy của TP. Hạ Long giờ đây giống một khu phố

Tàu đầy rẫy biển hiệu khách sạn, cửa hàng bán đồ lưu niệm in chữ Tàu. Ngay hai khu mua sắm lớn nhất dành cho du khách là Chợ đêm Hạ Long và Siêu thị Thanh Niên cũng “chú thích” chữ Tàu nổi bật hơn cả chữ Việt.

          Dân ở đây cho biết, mấy năm qua, khách Tàu đến rất đông. Có những buổi tối, họ đi từng đoàn, ăn uống ở các quán ăn trương biển hiệu chữ Tàu. Phần lớn biển hiệu quảng cáo đã sai luật, vì: “Điều 18 của Luật Quảng cáo quy định đối với biển hiệu quảng cáo: Trong trường hợp sử dụng cả tiếng Việt, tiếng nước ngoài trên cùng một sản phẩm quảng cáo thì khổ chữ nước ngoài không được quá 3/4 khổ chữ tiếng Việt và phải đặt bên dưới chữ tiếng Việt. Tuy nhiên, tại đây, chữ Tàu sánh ngang chữ Việt trên biển hiệu của đủ mọi loại hình dịch vụ. Từ ăn uống, ngủ nghỉ, đồ lưu niệm, thời trang, cửa hàng tạp hóa bán đồ lặt vặt cũng được “đính kèm” chữ Tàu.

          4-Tỉnh Bắc Ninh, và tỉnh Ninh Bình: Huyện Yên Khánh tỉnh Ninh Bình và Làng gốm Đông Triều , làng Dân Ca Quan HọTừ Sơn,  làng mộc Đồng Kỵ truyền thống từ hàng trăm năm của Bắc Ninh đang dần bị biến thành… “khu phố tiếng Tàu”. Đi dọc con đường làng vào thôn Đông và Phù Khê Thượng (Phù Khê, Từ Sơn, Bắc Ninh)  người ta treo cả biển chỉ đường bằng tiếng Tàu,.

          5- Tỉnh Hà Tỉnh: Trải dài 30 km dọc quốc lộ 1A qua các xã Kỳ Liên, Kỳ Long, Kỳ Thịnh (Kỳ Anh) xuất hiện hàng trăm quán cắt tóc, cơm, nhà hàng, khách sạn biển hiệu Tàu. Khu kinh tế Vũng Áng huyện Kỳ Anh có trên 1.400 lao động, trong đó Tàu cộng là 412 người, Đài Loan 300 người. Thực tế con số này còn có thể lớn hơn. Công nhân Tàu từ chối vào quán không có tiếng Tàu.

         II/- Tây Nguyên Việt Nam: Tại Tây Nguyên, không phải là phố Tàu bằng chữ mà có cả khu công nhân người Tàu làm việc ở mỏ bauxite Tân Rai – Lâm Đồng. Khu mỏ này chủ yếu là người Tàu, công nhân VN rất ít. Với đà khai thác các mỏ bauxite, chẳng bao lâu nữa, Tây Nguyên sẽ là lãnh địa của người Tàu.

         III/-Miền Nam Việt Nam:

               A-/ Bình Dương : Bình Dương là tỉnh đi đầu trong việc xây dựng thành phố mới cho di dời các cơ quan hành chính chủ chốt của tỉnh về thành phố này. Điều đáng nói là ngay sau khi đầu tư xây dựng một số cơ sở hạ tầng như đường sá, cầu cống,… thì xây dựng ngay giữa trung tâm Thành Phố Mới ở Bình Dương dự án dành riêng cho người Tàu được đặt tên là khu: ” Đông Đô Đại Phố”  do chính Công ty Becamex IJC tỉnh Bình Dương làm chủ đầu tư. Theo báo chí trong nước, phía sau những khu công nghiệp tỉnh Bình Dương mọc lên phố Tàu với hàng loạt cửa hàng, quán ăn, điểm massage … của người Tàu mà chủ yếu là công nhân tại những nhà máy do chủ người Tàu đầu tư. Ngoài công việc tại những nhà máy, khu công nghiệp họ còn mở nhà hàng, khách sạn, quán ăn, trường học…Tại những nơi nầy thì từ nhân viên đến chủ quán đều dùng tiếng Tàu, và đều nhập từ Tàu. Bảng giá được niêm yết bằng hai đơn vị là Nhân dân tệ và Việt Nam đồng. Rất nhiều trung tâm dạy tiếng Hoa do người Trung Quốc mở nhằm dạy người Việt Nam. Bảng hiệu, thực đơn được kẻ vẽ, in ấn xen kẽ cả hai ngôn ngữ Việt – Tàu.

            B/ Hệ quả:

           1/Xâm lăng bằng dân số, bằng chứng cứ lịch sử, va bằng nội gián :

              a/ Sẽ có nhiều cặp vợ chồng kiểu Trọng Tủy Mỵ Châu. VN là đất sống  hợp pháp cho những người Tàu vừa là di dân vừa là những tên lính xâm lược mai phục làm nội gián khi có chiến tranh.

               b/ Làn sóng di cư người Tàu sang VN không ngừng gia tăng, họ sang nước ta chủ yếu là lao động phổ thông từ các gói thầu EPC (1). Theo thống kê không chính thức của các cơ quan báo chí thì hiện có khoảng 90% gói thầu EPC đang được các nhà thầu Tàu thực hiện, trong đó, ngoài các nguyên vật liệu, thiết bị cần thiết thì ngay cả lực lượng lao động phổ thông cũng được các nhà thầu này “xuất khẩu” sang Việt Nam.

        2/ Xâm lăng qua phương tiện kinh tế:

              a/ Tàu sẽ thắng thầu nhiều dự án và họ sẽ đưa người của họ sang làm việc và từ đó, đường xá ghi bằng tiếng Tàu sẽ xuất hiện, khu phố Tàu ngày càng nhiều.

              b/ Hàng hóa Tàu đầy trên thị trường VN, người Tàu sang VN làm việc và sinh sống ngày càng đông. Nếu cứ đà này, không biết mươi năm nữa, có bao nhiêu khu phố Tàu trên nước Việt.Giải pháp cho câu hỏi nầy là CSVN phải bị sự sụp đổ.

 

          3/ Xâm lăng qua phương tiện văn hóa giáo dục:

              a/ Sách vở, ấn phẩm từ Tàu tuồn sang để truyền bá văn hóa Tàu, cờ Tàu trên sách học sinh, trong siêu thị VN, hình ảnh nước Tàu choán vị trí trên khu triển lãm du lịch của VN.

              b/ Hàng hóa Tàu tràn ngập VN. Người Tàu làm VN mang đậm bản sắc Tàu, như  trang trí theo kiểu Tàu, treo đèn lồng Tàu trong các Lễ Tết. Người VN sẽ có cảm tưởng đang ở trên đất Tàu, và đất nước VN bỗng dưng bị biến mất.

        4/ Xâm lăng bằng cách tiêu diệt sinh lực dân trí và dân khí:

              a/ Dùng thói côn đồ đánh đập bắt nạt người dân hiền lành để uy hiếp và gây tâm lý kinh sợ, chấp nhận than phận, không còn ý chí và khí phách quật cường.

              b/ Ban đầu chúng dùng tình cảm bạn bè để dẫn dắt thanh niên vốn nghèo khổ ít học thành kẻ hưởng thụ, lêu lỏng để rối nợ nần, nghiện nập ma túy đần dà lệ thuộc vào người Tàu, tôn sùng người Tàu thành ông chủ và sẳn sàng thi hành mệnh lệnh kể cả việc làm tay sai .

               c/ Đội quân xâm lăng Tàu cộng dưới dạng di dân nầy tổ chức thành đội ngũ, băng đảng  với các tên trùm hung hang bạo ngược như bản chất cố hữu từ tổ rtie6n của chúng. Chúng sẵn sàng xử bất kỳ người VN nào đụng đến phe nhóm chúng. Hiện nay, nọn Tàu nầy đã nắm hoàn toàn quyền lực và thế lực ở các nơi chúng trú ngụ. Vì vậy, công an cộng sản chẳng ra gì dưới mắt chúng .

    d/ Người VN ở những vùng có bọn Tàu cộng xâm lăng nầy cùng có tâm trạng đã bị xem là kẻ ngoại nhân, họ không còn là chủ của mảnh đất của họ hay của cha ông để lại, thay vào đó là cảm giác lép vế, thua thiệt trước sự giàu có và hách dịch của bọn người Tàu. Người Tàu có đủ  mọi thứ quyền lợi và quyền lực, thậm chí có nhiều cán bộ, công chức tỏ ra xu phụ, xum xoe người Tàu. Nếu không có biến chuyển chính trị thay đổi chế độ thì chẳng bao lâu nữa, người Tàu nghiễm nhiên trở thành ông chủ đích thực của người Việt trên đất Việt Nam.

      C/ Nổi lòng người dân :

             a/ CSVN vẫn quản lý dân chúng VN rất chặt chẻ trong cư trú lẫn kinh doanh nhưng lại không dám đụng chạm tới người bọn ngườiTàu di dân lậu nầy.

            b/ CSVN quy định chặt chẽ về tỷ lệ, kích thước chữ nước ngoài trên bảng hiệu nhưng bảng hiệu chữ Tàu thì CSVN không dám thắc mắc.

            c/ Tại sao trong khi hàng triệu thanh niên Việt Nam đang bị thất nghiệp và trở thành nạn nhân của những tệ nạn như buôn người, đi làm thuê rồi bị cưỡng bức lao động trên xứ người thì hàng vạn lao động phổ thông của người Tàu ào ạt đổ vào VN làm việc?

            d/ Tại sao các cảnh báo về sự cạn kiệt tài nguyên không được CSVN quan tâm và vẫn bị CSVN nhắm mắt làm ngơ cho ào ạt chảy sang Tàu?

  e/Tại sao doanh nghiệp Tàu và cả người Tàu được hưởng nhiều biệt đãi mà người Việt không được hưởng ngay trên chính xứ sở của mình?

 C/ Một đầu mối sang giá: người ta sẽ không ngạc nhiên với những gì trên đây nếu biết rằng ngay từ ngày 7/5/2007 một số cán bộ đảng viên đã và đang công tác tại “Ban Tổ chức Trung Ương, Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương, Ban Bảo vệ Chính trị Nội bộ Trung Ương  và một số cơ quan trọng yếu cơ mật khác của Đảng và Nhà nước tố cáo Hoàng Trung Hải Bộ trưởng Công nghiệp khai man lý lịch: Bố đẻ của Hoàng Trung Hải tên là Sì Sói, sinh quán ở Long Khê, Chương Châu, Phúc Kiến, Trung quốc. Nhưng nhờ sự tố cáo nầy mà Bắc Kinh Nguyễn Tấn Dũng phải đặt Hoàng Trung Hải vào ghế Phó Thủ tướng.

          Tên Phó Thủ tướng gốc Tàu này được giao nhiệm vụ phụ trách các kế hoạch về: công nghiệp, thương mại, nông nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải… nghĩa là  nắm trọn vẹn nền kinh tế VN. Đó là lý do giải thích tại sao hầu hết các công trình trọng điểm quốc gia đều rơi vào tay nhà thầu Tàu cộng. Hơn 20 năm qua, FDI (2) từ Tàu cộng chỉ chiếm 1,5% tổng vốn FDI đổ vào VN. Nhưng nếu là tổng thầu EPC thì tới 90% các công trình điện, khai khoáng, dầu khí, luyện kim, hóa chất… của VN đều do Tàu cộng đảm nhiệm, vì vậy mà người Tàu đã theo chân các dự án này tràn sang hầu khắp các tỉnh thành VN rồi tìm mọi cách để sinh cơ lập nghiệp.

        Hiện nay, tại làng Đồng Sơn, Quỳnh Giao, Quỳnh Phụ, Thái Bình, Hoàng Trung Hải lập một nghĩa trang cho tộc họ của hắn, trên cổng tam quan vào khu mộ nầy có ghi dòng chữ trên cột vàng bên trái: “Hoa Kiều Tiên Hữu Tổng Mộ”

       D/ Kết luận:

          1/Trong tương lai không xa, người VN sẽ không còn được làm chủ trên chính mảnh đất tổ tiên của mình?

          2/ CSVN ưu ái xây nhiều Phố Tàu, rồi cho dân Tàu nhập cư ồ ạt thì trong vài chục năm nữa, người dân Việt Nam sẽ đi về đâu?

           4/ Tại sao xây dựng khu phố Tàu ngay trung tâm đô thị, trung tâm hành chính của tỉnh? Liệu người Việt Nam có bị cấm không được bén mảng đến đây -trên chính đất nước Việt Nam của mình như đã xảy ra tại một Casino quốc tế ở Đà Nẵng, hay một sân gofl ở ngay địa đầu Móng Cái?

      Nếu có người Việt Nam nào ngao ngán thốt lên :”Ước gì tôi là người Trung quốc sống trên đất Việt Nam!” thì nhà cầm quyền Hà Nội còn chút gì cho quê hương, cho Tổ quốc , cho giống nòi!

                 Tống Phước Hiến
             (tổng hợp và biên soạn)

 -------------------------

Chú thích :

1/ EPC : (Engineering, Procurement and Construction contrac) - Hợp đồng tổng thầu, nghĩa là “Hợp đồng thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình”  là một loại hợp đồng xây dựng mà nhà thầu thực hiện toàn bộ các công việc từ thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế bản vẽ thi công, cung ứng vật tư, thiết bị đến thi công xây dựng công trình, hạng mục công trình và chạy thử bàn giao cho chủ đầu tư.

2/ FDI: (Foreign Direct Investment) - đầu tư trực tiếp nước ngoài, là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này)

Sunday, September 30, 2012

THÂN PHẬN KIẾP NGƯỜI



Lời dẫn nhập:

    Kính thưa quý vị,
      Phải chăng vì duyên số chưa tròn, nên mối tình thưở học trò đành lỗi hẹn.
      Cái thưở "Ngàn năm hồ dễ mấy ai quên" đó , có khi đã làm đỏ cay khóe mắt.
      Rồi người con trai lên đường trả nợ tang bồng. Làn tên mũi đạn, với bao hiểm nguy đã giúp chàng chiến binh vơi bớt niềm riêng.
       Người con gái lên xe hoa chôn chặc niềm rung mơ đầu đời.
*
Ngày 30.4.1975 chàng chiến binh đành ngậm ngùi "gãy" súng, cùng với quê hương thống hận chịu đọa đày lao lý. Thân phận người con gái cũng bị vùi dập tả tơi dưới bàn tay cộng sản thô bạo.
*
Sau tận cùng khốn nhục, người chiến binh năm xưa lại phải đành tạm mất quê hương để đổi lấy niềm hy vọng tái dựng cuộc cờ mong góp bàn tay lấy lại non sông.
*
      Tượng đài chiến sĩ là nơi người lính năm xưa đến tìm tình đồng đội
Tượng đài thuyền nhân tỵ nạn là nơi tạ tội với non sông, và gười chiến binh già vẫn khắc khoải khi nghĩ về Đất Mẹ,
*
       Phải chăng hồn thiêng Người Xưa đã nghe tiếng lòng thiết tha chân tình, để rồi một hôm, anh đọc được tên người con gái đã đi vào tim anh trên phiến bia ghi tên . Ước mơ gặp nhau dù chỉ một lần thôi, vĩnh viễn chìm vào đáy biển oan khiên.

                        
________________________________
THÂN PHẬN KIẾP NGƯỜI

                  Tống Phước Hiến

Em gặp tôi, với hàng mi lệ đọng
Ngầm báo tin hai đứa rẽ hai đường.
Cầm tay em, cùng đau nỗi đoạn trường
Lệ không nhỏ. nhưng lòng tôi sóng dậy

Tôi lặng lẽ, nghe ba đào cuồn cuộn
Bóng tương lai, nghèn nghẹn một mùa đông.
Chân bước tới, hồn quay ôm quá khứ
Mối tình si chới với rụng hòai mong.

Say hiểm nguy, dấu lệ vào quên lãng
Cùng kiếm cung thay mơ ước hão huyền.
Ngày được tin, chân em lên xác pháo
Mắt hoa mờ, lòng se sắc niềm riêng.

Cầu mong đời , cho em nhiều hương phấn
Dù tim tôi dằng dặc lạnh mưa đông,
Lưng vai ướt phủ đời tôi sương gió
Sông cạn dòng đành nhận kiếp long đong,

Tình yêu em, không gầy theo năm tháng
Nghĩ về em, tim loạn nhịp bồi hồi.
Khung trời cũ kéo về như nắng mới
Choàng tay nâng chuyện mơ ước xa xôi

                                      Thế là hết, bến mơ rời cõi mộng
Mất em rồi, mất hết tuổi thanh xuân.
Thân lưu lạc, mang tình em lưu lạc
Khóe mắt cay thường nhỏ giọt bâng khuâng
                        *
           














Vài lần đến thăm tượng đài tỵ nạn
Tượng đài buồn suy niệm những thuyền nhân
Tôi hay đến cúi đầu thương quốc nạn
Thương phận người đau non nước trầm luân

Rồi hôm ấy bất ngờ trên phiến đá
Thấy tên em, đau xé máu tim tôi
Tên em đó, em chìm sâu đáy biển
Thế là hết, tan niềm mơ ấp ủ

Năm mươi năm, tìm em mòn sông núi
Ước mong nhìn dù chỉ một lần thôi
                                      Tôi sẽ nối tình ta trên bia đá
                                      Xin cùng em đi khắp cõi luân hồi


    Tống phước Hiến
 Little Sài gòn 30.4.2012



   

Thursday, August 9, 2012


Hỡi người bạn trẻ
          
                   Tống Phước Hiến
             Viết để kính tặng các bạn trẻ Việt Nam
 
 
           Bạn nghĩ gì khi Quê-hương lâm nạn,
           Khi Non-Sông nghiêng ngữa điêu tàn?
          Bạn nghĩ gì khi muôn dân thống hận,
          Triệu mảnh đời khốn khổ lầm than?
 
   Bạn trẻ ơi, hãy tung giươm cứu quốc,
   Máu tiền nhân chan chứa nhuộm cơ đồ.
   Gươm trung liệt từng Bắc bình, Nam tiến,
   Lên yên cương, gầy dựng lại Sơn hà.
           
           
    
 
            Hãy đòị lại dải giang sơn cẩm tú,
            Nền văn minh từng rực rỡ huy hoàng.
           Quyết lấy lại, quyết bền gan, quyết chiến,
           Dù chông gai, dù chiến địa phơi thây !
 
Phải đòi lại niềm tự hào dân tộc,
Bao tinh hoa tich lũy tự ngàn xưa,
Hãy giữ lấy và biến thành hơi thở,
Hãy xứng danh là thế hệ kế thừa
 
  
          
          Phải đòi lại quyền làm người được sống,
          Được thật thà, được chơn chất hồn nhiên.
          Đuợc tự hào về tổ tiên dũng liệt,
          Về giống nòi, về Tổ quốc thiêng liêng
 
Bao thế hệ cùng chung gịòng lịch sữ,
Cùng đan tay, cùng quyết liệt tiến lên.
Cờ đại nghĩa dương cao đường quyết chiến,
  phơi thây, sông núi phải vững bền.
 
                                 Tống phước Hiến

Tuesday, July 24, 2012

               Vượn trả thù Người
                               Tống phước Hiến

            Sau vụ “văn nghệ đột xuất mừng xuân 78”, vì cai tù kết luận đó là hình thức của bạo loạn, nên không khí trại giam Z.30.D tăng thêm ngột ngạt nặng nề. Tên Thượng úy Thới tức Sáu La là cán bộ Trực trại cho thiết lập thêm những hàng rào nhằm cô lập, chia cắt mỗi nhà tù một khu riêng biệt; biến mỗi nhà tù thành những cù lao bị vây bọc ngăn cách. Vật liệu làm hàng rào mới nầy vẫn là những cây tre nguyên, rắn chắc, đan theo hình mắt cáo và buộc kết bằng dây song (một loại mây rừng) rất “có chất lượng”. Giữa các hàng rào cô lập mỗi nhà là con đường đi rộng chừng 4 mét. Con đường nầy cai tù và “tù thống trị” tức bọn Thi đua, Trật tự dùng để đi tuần tiểu, quan sát. Tù chỉ được dùng để đi lảnh cơm nước, tập họp. Nếu không có cai tù hay Trật tự, Thi đua đi kèm áp giải thì mọi sự di chuyển của tù trên đường nầy dù bất cứ lý do gì cũng đều bị tuyệt đối cấm, sẽ bị kết tội vi phạm nội quy trại giam và dĩ  nhiên có thể bị bắn chết nếu cai tù muốn.
Ðể “đảm bảo an toàn cho học viên” Sáu La cho sơn vôi trắng quanh các vách từ đất lên đến cửa sổ mỗi nhà, và “quy định” tù khai bịnh được ở nhà trong giờ lao động không được ra khỏi nhà. Tù ra ngoài “linh tinh” dễ dàng bị “phát hiện” bởi màu sơn trắng quái ác kia.
Khi hàng rào tre, và màu vôi trắng được thực hiện xong thì lòng dạ bọn đê hèn biến thành hàng rào antenne, ráo riết tăng cường nghe ngóng hoạt động. Muốn liên lạc, thông tin cho nhau tù phải đứng sát hàng rào, nhưng vì bị con đường làm cách xa, nên tù phải tăng cường độ âm thanh lớn hơn chứ không còn rì rà rì rầm như hồi trước.
Dù tù bị thiệt hại khá nhiều như bị “cắt” hoặc hạn chế số lượng quà thăm nuôi, không được viết hay nhận thư, hoặc phải bị “đi làm việc”, kỷ luật..., thế nhưng thói quen thích phiếm luận đã là căn bịnh “mãn tính bất trị” của tù. Do vì “mâu thuẫn quyền lợi” giữa tù và bọn Thi đua Trật tự. Nên hai “thế lực” nầy nảy sinh ra trận chiến chuyên về kỷ thuật như  “truyền tin, giải mã”.   
Trận chiến nầy hết sức “ác liệt”. Hai bên đều phải chơi lối “cận chiến”.
           Tù “thứ thiệt” gọi tù phản bội là “bù tọt”. Vô hình  chung, hai bên chọn cùng một chiến thuật nằm vùng, hay cài răng lược để tấn công nhau.
           Tù “bù tọt” giả làm tù “phản động” (tức loại tù không bị kẻ thù hèn hóa, từ đây, chữ tù làloại tù đáng được kính trọng nầy) để “nằm vùng”, xâm nhập hầu thu nhận tin tức, giải mã các “ngụy ngữ, đặc lệnh truyền tin”, nhận diện các dấu hiệu báo động, phòng thủ của tù “phản động” rồi báo cáo chỉ điểm lập công, mong được bình bầu xuất sắc, nâng hạng phần ăn; được viết, nhận thư, thăm nuôi nhiều lần và quà nhận được nặng hơn. Đối bọn tù phản bội nầy thì mơ ước cao nhất của chúng là được cai tù cho phép hú hí, thỏa mãn tình dục với vợ trong cái gọi là “nhà hạnh-phúc” vô cùng nhơ bẩn.
Tù “phản động” giả ngu đánh lừa tù “bù tọt”, để tìm hiểu chúng hầu có biện pháp hoặc vô hiệu hóa khả năng chúng hoặc nương vào thói quen nghi ngờ của cai tù để đưa chúng vào kỷ luật. Tù khai dụng nhiều tình huống để công khai tố cáo, công khai miệt thị, khinh tởm bằng ánh mắt, bằng xa lánh tù phản bội và bằng... nước bọt. Tù báo động cho nhau, cùng nhau tỏ thái độ khinh ghết khi chúng lê lết lại gần.
           Có khi trong dịp may rất tình cờ; tù nhận diện được mặt bọn bù tọt tức antenne từ trong đống phân do đội vệ sinh chuyển phân từ hầm vệ sinh bọn cán bộ sang cho đội rau xanh. Trong lúc đổ nước  hòa vào phân tưới cây, những tờ báo cáo của bọn đê hèn antenne, nổi lều bều.
           Cũng có khi tù đi đại tiện trong lùm cây và vô tình gặp “hên” bắt quả tang bù tọt đang làm nhiệm vụ “bọ hung”.
           Nhiều lúc cuốc cỏ, gánh nước quanh dãy nhà của “vượn” 9tu71c bọn cán bộ), tù nghe rõ mồn một tiếng báo cáo của bọn vô lại và tiếng hạch sách hống hách của lũ vượn ban chỉ thị cho “ngợm” thi hành.
Thời gian nầy, tù bị gọi đi “làm việc” liên miên, dồn dập. Ðã qua thời đọc biên bản trước khi bị nhốt vào phòng kỷ luật. Bây giờ muốn nhốt là gọi tên rồi dẫn đi, bất kể trong nhà ở hay ngoài khu lao động. Như thế kể cũng tiện, khỏi màu mè rắc rối! Lâu dần, không khí trại cũng giảm bớt căng thẳng vì tù đã vượt qua được trạng thái hoang mang, giao động, sợ hải, bất cứ lúc nào họ cũng có cảm giác sẳn sàng vào kỷ luật.
Tình trạng “khẩn trương” ấy, kéo theo hậu quả việc “ca cống linh tinh” bị hạn chế tối đa. Mỗi tuần, tù chỉ được “cải thiện” vào khoảng một giờ vào trưa Chúa nhật. Trước kia, tù lao động xuất trại được gánh nước về cho tù khai bịnh ở nhà tắm rửa. Hay được mang về một ít rau dại như cải tàu bay, cải cúc hoang, lá khoai mì, rau dịu, rau sam, bất cứ thứ rau gì tù ăn cũng được miễn là đừng đắng quá...Những thứ rau cỏ do trời trồng ấy, tù dùng để “cải thiện hợp đồng” với một nắm mì gói, mấy lát khoai mì thuộc khẩu phần chính thức. Nay tất cả đều bị xem là vi phạm nội quy trầm trọng. Tù cũng bị gắt gao hạn chế, có khi bị cấm mang theo ra khu lao động những thức ăn do thân nhân mang lên thăm nuôi.như mì gói, đường, cơm, gạo... Nghĩa là tù hết được hưởng “chế độ tự túc bồi dưỡng”.
          Nghe nói những biện pháp nầy là do Ban Thi Đua đề nghị nhằm thắt chặc cái bao tử cho “chúng” (tiếng của tù Thi đua, Trật Tự gọi tù bị thống trị) bớt “ăn no rửng mở”, và bọn “ ăn bám, trây lười lao động” (ý chỉ vào tù bị thống trị) không có điều kiện “nhàn cư bất thiện” gây náo loạn, phá rối “nếp sống văn minh văn hóa trại, phá hoại chính sách cải tạo”, cản trở sự an tâm học tập tiến bộ của các trại viên khác. Ban Thi Đua còn giải thích thêm rằng, những biện pháp ấy chính là phương cách ngăn chận, phá vỡ âm mưu trốn trại ngay khi mới manh nha của bọn phản động. Ðồng thời, biện pháp nầy sẽ thúc đẩy cho bọn tù có thăm nuôi vì “quyền lợi” quay ra tố cáo tù phản động để được tin tưởng. Ðể những đề nghị của chúng được “bọn chủ” cứu xét chấp thuận, tù phản bội khôn khéo “vận dụng lý luận hiện thực chủ nghĩa” theo kiểu “đắp chăn biết rận” hay “đèn ai nấy sáng, nhà ai nấy biết” để rắp tâm cam phận làm con chó canh chừng và sủa tố cáo .
            Ban Thi Đua Trật Tự “trình lên trên” rằng: Theo chúng nhận xét thì bọn chống đối thường là bọn tuổi còn trẻ, và loại “con bà Phước”. Muốn vô hiệu hóa, triệt tiêu hoạt động của tù phản động, thì bọn thống trị  bao gồm bọn cán bộ trại giam đến những tên làm tay sai cho giặc như (tức bọn cai tù và bọn thi đua trật tự) đã phải tận dụng tin tức từ những “trại viên tiến bộ” (tức bọn antene). Nhưng thời gian qua, đã chứng minh rằng biện pháp nhốt kỷ luật không còn có hiệu năng, đe dọa hay trừng phạt nữa, nghĩa là không  có “nhằm nhò “ gì với tù, việc vô ra kỷ luật đối với họ như  bắt cóc bỏ đĩa. Vậy muốn làm cho tù phải bị  “ná thở” 9me65t mỏi, khổ cực, nhọc nhằn, nặng nê), cai tù phải tìm cách làm cho nội bộ tù  nhào xáo nhau bằng cách gây khó dể, hạn chề số lần thăm nuôi, số lượng quà thăm nuôi cũng như thời gian gặp thân nhân. Nghĩa là phải khai thác hoàn cảnh giửa tù được thăm nuôi và tù “con bà phước” làm gia tăng suy nghĩ và tâm lý của hai loại tù nầy và tạo điều kiện cho những ganh tỵ, hiềm khích, nghi ngờ, khi ghét lẫn nhau bùng nổ.
Những đề nghị của bọn Thi Đua, Trật tự với mục đích hãm hại tù được quan thầy chúng nhanh chóng chấp thuận. Lợi dụng thời cơ, bọn bất lương, lưu manh nầy tìm cách  áp đặt các biện pháp rừng rú ngỏ hầu chúng trhu75c hiện được khẩu hiệu: “cướp nhanh, cướp mạnh, cướp vững chắc “ cho xứng danh là “học trò của Lenine vĩ đại”.
“Sách lược rừng rú” đó rất đơn giản. Ấy là, quà thân nhân mang theo bao nhiêu, tù được khiêng vác vào bấy nhiêu, nếu khiêng vác không nổi thì trật tự “thông cảm” phụ khiêng hoặc trại cho mượn xe “cải tiến”, loại xe đội vệ sinh dùng để chuyên chở  phân bắc” (loại phân tươi do bộ máy tiêu hóa của người sản xuất và tống khứ ra). Khi đến khu vực kiểm soát đồ thăm nuôi trước khi nhập trại thì tình thế đổi khác. Sự “hồ hởi phấn khởi” đang từ tù được thăm nuôi nhanh chóng chuyển sang cho bọn trật tự. Tù trật tự cũng tự thấy cần chấm dứt ngay mọi sự “cảm thông” để khoát lên “trách nhiệm trên giao”.
Mưu mô xảo trá, của bọn cán bộ phụ trách thăm nuôi lẫn bọn nô tài trật tự tay sai thủ đắc nhiệm vụ “khuyển ưng” cũng gặp nhau tại cuối đường hèn mọn là “trấn lột” cướp đoạt  thực phẩm thăm nuôi của tù. Ðịa điểm kiểm soát đồ thăm nuôi là căn phòng có kê bàn nhỏ, một cái bao lớn hoặc cần xé bự hay cái thùng phuy.
Cai tù đứng bên ngoài nhìn vào, lâu lâu liếc mắt “trông chừng” xem có “sự cố “ gì cần phải can thiệp giải quyết hay không. Qua tín hiệu của tù trật tự, thi đua; cai tù “triển khai” óc thông minh loài vượn của chúng  để hoặc nhanh chóng hoặc “chậm lụt” giả lờ ám hiệu cho “chìm xuồng” . Tùy thuộc vào hôm “cao điễm”, tức có nhiều “trại viên” được thăm nuôi để cai tù cho phép Ban Thi Đua tăng cường thêm nhân sự cho bọn Trật Tự. Thường thì bọn trật-tự, thi đua được rộng quyền giải quyết, - vì đó là nội bộ của tù! Những quyết định của tù thống trị căn cứ vào “giai cấp kinh tế” của “con mồi” có máu mặt hay không. Quà thăm nuôi của mỗi người tù, bọn thi đua trật tự  biết rõ vanh vách.
Tất cả quà thăm nuôi đều phải lấy ra, bày hết trên bàn. Tù trật tự, Thi đua đích thân dùng tay, mắt, mũi, có khi cả miệng – nghĩa là tận dụng các giác quan, để kiễm soát. Hàng nào được “qua ải” thì chuyển về phía cuối bàn, tù bỏ vào bao thăm nuôi. Qua được “hàng rào siêu quan thuế ” hầu hết là các chất bột, nước mắm khô, muối, đường, các loại đậu, thuốc hút, áo quần, giấy viết, sách vở, bàn chải đánh răng, thuốc bịnh loại thông thường, đồ ăn đã nấu chín. Hàng phải bị chận bớt hoặc tịch thu hay trại giữ giùm và sẽ “trả lại” khi có nhu cầu vì thi hành “lịnh trên” là thuốc trụ sinh, mì ăn liền, thịt hay cá chà bông, thuốc điếu, đồ dùng có “nhãn hiệu  nước ngoài” nhất là của Mỹ hoặc các nước thuộc “khối tư bản phản động”. Loại  hàng nầy phải chờ xin chỉ thị cán bộ. Bị tịch thu một phần hay toàn bộ hoặc bị nghiêm cấm hưởng dụng đều bị tùy theo “giá trị phẩm chất”, căn cứ vào mẫu mã bao bì, tên nơi hoặc nước sản xuất hoặc bằng sự  nhạy cảm của trực giác ” hoặc do sự  lượng giá của giới chức có thẩm quyền”. Ðồ vật thăm nuôi ít khi bị trại tuyên bố tịch thâu. Chúng cho hay chỉ tạm giử để “điều nghiên”. Ban đầu chúng cũng màu mè lập biên bản, nhưng sau vì quá “vất vả” với chữ nghĩa, nên chúng đành “cách mạng hành chánh thủ tục” bằng cách… thông báo miệng.
            Ðồ thăm nuôi do mồ hôi nước mắt có khi bằng máu thân nhân tù. Do vì thương yêu họ đã nhẫn nhịn những khát thèm, chịu đựng thiếu đói, giành dụm, cất dấu trong thời gian khá dài. Họ phải xin phép, chìu lòn hối lộ, cắn răng chịu đau nhục với bọn “đầy tớ dân” tức công an địa phương mới có tấm giấy di chuyển và thăm nuôi. Họ phải chầu chực đợi chờ khổ sở mới đón được xe để vượt qua hàng trăm, có khi hàng ngàn cây số ngàn, rồi họ lại phải mang xách, khuân  vác, lê lết hàng chục cây số đường đèo núi, sông suối cheo leo hoang vắng. Họ phải ngủ bụi, ăn đường chờ chực nhọc nhằn mới đến được đây. Tất cả đồ ăn, vật dụng dùng làm quà thăm nuôi chuyên chở vào đó biết bao nhung nhớ, yêu thương, trìu mến và mong cầu. Nhưng những nghĩa tình đáng trân trọng ấy đều bị bọn tù trật tự, thi đua - những người mà trước kia là cấp chỉ huy, là thuộc cấp, là chiến hũu của tù cướp đoạt và xúc phạm. Loại phản bội nầy hoàn toàn không còn có bất cứ điều gì để tạm chứng minh chúng còn là con người, chúng không còn là người nửa, chúng là hoang thú giả Người - dựa vào thế lực kẻ thù để cướp đoạt tài sản chuyên chở tình cảm lẩn sự sống của đồng loại, đồng bào, dồng đội và đồng cảnh.
            Ngoài biện pháp đổ thừa cho có vẻ hợp pháp hoặc bán hợp pháp, bọn thi đua trật tự còn trắng trợn cướp đoạt những thức ăn có thể để lâu và dể ăn như nắm ruốc, thịt hay cá chà bông, thịt rim hoặc kho nặm...chúng trút ra thau, soong, nồi. Vật đựng thức ăn nguyên trước như chai, keo, soong, nồi chúng vất liệng thật xa. Chúng đổ nước vào, khuấy lên để gọi là tìm “tài liệu phản động”. Nếu không phát hiện nghi ngờ, chúng bảo tù trút vào như củ; nhưng những đồ chứa đựng đã “tung cách chim tìm về chổ kín” rồi, tìm đâu ra!? Tù sợ ở lại lâu “sinh chuyện” nên dù có luyến tiếc cách mấy cũng đành “ngậm ngùi”ca khúc biệt ly về lại nhà tù. Nơi ấy, các chiến hữu đang... nhiệt tình mong chờ!
            Cuối ngày thăm nuôi, tù Trật tự, Thi đua thu dọn “chiến trường” dưới sự giám sát của cai tù đặc trách thăm nuôi và cai tù trực trại. Bọn phản bội chuyên nghiệp và chuyên nghề “săn đón mồi chài” biết ý thích của chủ, chúng chia phần cho từng tên. Vì là “lộc của rơi” nên bọn cai tù thường không có ý kiến và “an tâm tin tưởng” vào bọn lâu la thủ hạ. Ngoài một số quà do lén lút ăn chận được, còn thì hoặc do bọn  thi đua trật tự xin hay cai tù tự ý thí cho, tất cả được chúng bỏ bao mang về “chuồng” và dĩ nhiên không quên khệ nệ gồng gánh thêm những soong nồi thau chậu mà chúng nhẫn tâm cướp đoạt của tù bằng cách đổ nước vào.
            Trận chiến vẫn còn tiếp diển, dù lực lượng hai bên không cân sức, nhưng người tù đã nhận được vị trí của mình, đó là vị trí Người Lính trên mặt trận. Bởi vậy Người Tù sẽ phải phản công, dù hậu quả như thế nào, Người tù cũng phải phản công. Phản công muôn đời vẫn là phương thế biểu thị lòng tự trọng, biểu thị ý thức và trách nhiệm của Người Lính Chiến .
                  
                                                                                                     Tống phước Hiến

                                   
           Trích từ : Khi vượn tấn công Người
1/ Những chữ in nghiêng là  ngôn ngữ của Việt cộng thường dùng.
2/ Những chữ bỏ trong ngoặc kép “ .....” là ngôn ngữ thường dùng của tù lúc bấy giờ.
3/ Phân bắc là phân người còn mới, chưa kịp bị phân hủy-
    Danh từ nay chỉ có sau khi đất-nuớc bị Việt cộng cưỡng chiếm và thống trị.
4/ Vượn là từ ngữ ám chỉ bọn Việt cộng, vì chúng tin rằng con vượn chính là thủy tổ của lòai người.
5/ Ngợm là từ ngữ để ám chỉ bọn tù phản bội như bọn trật tự, thi đua, antenna.