Tuesday, January 10, 2012

                     SƯU-TẦM NHỮNG BÀI THƠ TÙ
                  DƯỚI CHẾ-ÐỘ CSVN SAU 30.4.1975

        Sau quốc biến 2.9.1945 và sau quốc nạn 30.4.1975, đảng CSVN trung-thành với chủ nghĩa cộng sản bạo tàn dưới sự chỉ đạo của đế quốc Nga sô và Tàu cộng đã phủ chụp xuống Tổ-Quốc VN những đổ nát hoang tàn; gây bao thảm họa ly hận, máu lệ kết tụ ngút ngàn phẫn hận:
            Máu đã không đổ lan tràn ,
            Nhưng đã âm thầm ngấm sâu vào đất.
            Một Việt-Nam thống nhất,
            Nhưng Việt-Nam đã mất hết tính người.
                                                Hà-Thúc Như-Hỷ
      Chìm trong bão máu lệ oan khiên ấy, toàn dân Việt bị giam cầm tại hai trại tù nghiệt ngã: Sĩ Quan, viên chức, cán bộ VNCH; các đảng phái Quốc Gia, các văn nghệ sĩ, các nhà tu hành, những nhà ái quốc, những chiến sĩ vì lương tâm đấu tranh, những lương dân chơn chất mộc mạc bị đày ải trong ngục tù khổ sai nô lệ. Cuộc đời thường chính là nhà tù lớn, dành cho kiếp nô dân lầm than uất hận.
      Nô dân thì dùng loại văn chương bình dân như hò, vè, nói lái, ca dao và lấy truyền khẩu dân gian làm phương tiện lưu chuyển nỗi phẫn hận và những ước mơ được làm người của họ. Tù nhân, và những người thân yêu của họ  dù bị đắng cay khổ nhục, dù bị kềm kẹp bạo ngược họ vẫn sáng tác. Những sáng tác ấy  thai nghén, tượng hình trong cảnh cùng khổ, trong điều kiện khắc nghiệt. Những tác phẩm ấy là những cảnh đời tan nát. Những sáng tác ấy cần phải được lưu giữ, vì đó là những chứng tích lịch sử, là những bông hoa mượt mà hương sắc nhưng đẫm tràn máu lệ.
       Trong ý nghĩa nầy, chúng tôi xin đề nghị: Chúng ta cần sưu tầm góp nhặt những hạt ngọc máu ấy. Ðó chính là một phần trong giòng văn học sử Việt-Nam. Phần văn học sử nầy đánh dấu giai đoạn tang thương điêu tàn khốc liệt nhất của Dân Tộc dưới sự thống trị man rợ của tập đoàn CSVN hoàn toàn mất hết, mất hẳn tính người. Những sáng tác đó bao gồm : Thơ, văn, nhạc và họa.
       Ðể tạo điều kiện dễ dàng cho những nhà nghiên cứu, nên chúng ta cố tìm thêm những chi tiết chung quanh sáng tác ấy, càng nhiều chi-tiết càng quý như tên tác giả, thời gian, không gian và hoàn cảnh tác phẩm ra đời, hậu quả do tác phẩm ấy đối với tác giả và những người liên quan, hay ảnh hưởng, sự lưu truyền tác phẩm; hoặc là chúng ta biết được tác phẩm ấy trong trường hợp nào …...
     Ðể mở đầu, chúng tôi xin trình hai bài thơ: Một bài do thi sĩ khuyết danh, phu nhân của một Sĩ Quan bị tù cải tạo, và một bài của một tù nhân chính trị.

         I.-Bài I:
            Bài thơ dưới đây, chúng tôi trích trong tác phẩm: “ Những bước chân tù ” (Tức Bác-Sĩ bất đắc dĩ) của Tác giả Chánh-trung. Nhân đây, chúng tôi chân thành và trân trọng kính xin tác giả cho phép chúng tôi được phổ biến. Vì không có điều kiện để xin phép trực tiếp, xin tác giả vui lòng xem đây là lời kính xin phép trực tiếp.

                                                 NỖI LÒNG THIẾU-PHỤ
                                               (Nguyên tác của nữ thi-sĩ khuyết-danh)
                                                 
                                                  Đêm nay chẳng ngủ anh biết không?
                                                  Em gom thi tứ viết cho chồng
      Thương anh em khóc trên từng chữ
      Thơ lạnh hơn trời đêm lập đông
                            *
      Thơ viết cho anh giữa chốn nầy
      Ðâu lời mật ngọt chuốc hương say
      Thân anh cá chậu chim lồng ấy
      Ðịnh mệnh an bài bao đắng cay
                            *
      Bốn năm thiếu phụ ở bên song
      Năm tuổi đời em ngóng đợi chồng
      Thiên hạ bốn mùa thiên hạ có
      Riêng em chỉ có một mùa đông
                         *
      Chinh chiến ngày xưa lắm đọan trường
      Hòa bình giờ lại qúa đau thương
      Sài Gòn - Nghệ Tỉnh xa xôi quá
      Anh ở, em về bao vấn vương
                                        *
      Em ngở ngàng anh đã phụ em
      Xót xa tình ái lạnh môi mềm
      Anh đi biền biệt không về nữa
      Anh của lòng em sao nở quên
                            *
      Bên cầu em đứng, đợi, chờ, trông
      Ðông quá mà sao vắng bóng chồng
      Anh hởi ! Anh ơi ! ngày hai buổi
      Ði về anh có nhọc nhằn không ?
                            *
      Rút thơ trao lén lại quay đi
      Trời hởi ! Trời ơi ! có tội gì ?
      Ðoàn người cải tạo về ngang đó
      Cúi mặt thương chồng lệ ướt mi
                            *
      Anh vững tin em mãi đợi chờ
      Anh về em mới hết bơ vơ
      Bến xưa vẩn đợi con đò cũ 
     Tàu đổ về ga, ôi ước mơ
            
                                              Một người vợ thăm chồng cải tạo 11.1979

              Bài II:
             Trong lúc trình bày ý muốn sưu tầm những bài thơ như đã kính trình , tình cờ chúng tôi  được một người chưa từng đuợc trò chuyện. Ông có biết một bài thơ của một tù nhân chính trị, sáng tác trong tù. Sau khi về nhà, vị ấy gọi điện thọai và dọc cho tôi bài thơ cùng một ít chi tiết mà ông có. Chi tiết về bài thơ ấy như sau:
            Ngày 21.3.1999 ông Ðào-văn-Bình  Chủ tịch Tổng-Hội Tù Nhân Chính-Trị Việt Nam nhận đuợc thư của một cựu tù nhân chính trị đang cư ngụ tại South Carolina cho biết về một trường hợp đáng thương và sau đó ông Bình với phương vị của mình, ông ra lời kêu gọi giúp đở cựu tù nhân chính trị Việt Nam tên Trương Nhật Tân. Trong lời kêu gọi ấy ông Bình cho biết  sơ lược về Ông Tân như sau:
            Ông Trương Nhật Tân sinh năm 1947. Trước năm 1975, ông Tân là Trung-Sĩ thuộc đơn vị Thám-Sát của Phòng Cảnh-Sát Ðặc-Biệt Tỉnh Quảng-Nam.
            Sau khi mất Nước ông Tân trốn vào Rừng Lá (Căn cứ 7) gia nhập tổ chức kháng cộng có tên là :”Việt-Nam Phục Hồi Nhân-Quyền”.
            Ông Tân bị kẻ thù bắt vào ngày 12.9.1979 và bị chúng kết án tử hình cùng với bốn chiến hữu khác của ông. Nhưng sau đó chúng chuyển anh qua án tù chung thân. Sau 19 năm bị đày đọa trong lao tù. Ngày 24.10.1998 Do lệnh đặc xá, ông Tân được phóng thích vào ngày 24.10. 1998 cùng với các ông Ðòan Viết Họat, Nguyễn  Ðan Quế, Trần Mạnh Quỳnh.
            Vì gia sản ông bị CSVN tịch biên, nên ông phải sống cảnh vô gia cư, nương nhờ vào bà con, bằng hữu.
            Nhưng theo ông Phạm-Văn-Thành, người đã từng ở tù chung và sau này, có thời từng  cùng họat động chung với Luật-Sư Hòang Duy Hùng cho hay: Ngày 15.4.1999 ông Phạm Văn Thành có nhận được tin từ Việt-Nam thì ông Tân còn đang bị giam tại trại giam Nam Hà.
            Ông Trương Nhật Tân là một chiến sĩ, không hề khuất phục sự bạo ngược của cộng sản. Bài thơ BƯỚC CHÂN với bút hiệu Vũ Bình Nam dưới đây ông sáng tác tại trại giam A.20 Phú Khánh nhân lễ tưởng niệm năm thứ 6 ngày Phó Ðề Ðốc Hòang Cơ Minh đã đền nợ Nước trong chiến dịch Ðông-Tiến II vào lúc khoảng 10 giờ sáng ngày 28.8.1987 tại vùng hạ Lào
             Bài thơ nầy do ông Phạm Văn Thành cung cấp.

                                      BƯỚC CHÂN
                                                                          
                                                                           Vũ-Bình-Nam

                                
                              Lần đầu tiên tôi biết đến tên anh
                                      Cũng là lúc anh trở thành Liệt Sĩ!
                                      Anh đã về với Non-Sông hùng vĩ,
                                      Phất cao cờ của Chiến Sĩ Tự Do.

                                     Bước chân anh cả Dân Tộc reo hò,
                                     Theo từng chặng Binh đoàn anh Ðông Tiến.
                                     Chí nguyện quân tung-hòanh trên trận tuyến
                                     Ðạp xác thù băng lửa đạn xông pha.

                                     Anh về đây viết lại bản hùng ca,
                                     Theo tiếng gọi Sơn hà đang thôi thúc
                                     Từ hải ngọai lời thề đơn giản nhất,
                                     Ðòi Tự Do cho Dân Tộc đọa đày.

                                     Cánh chim Bàng đã xẻ gió tung mây,
                                     Về đất Mẹ sau bao ngày vong-quốc.
                                     Mưa cao nguyên giữa rừng thiêng gió buốt,
                                     Nắng hạ Lào như trút lửa hờn căm.

                                     Trước Tử thần đôi mắt vẫn đăm đăm,
                                     Truyền sứ mệnh: Sẳn sàng hô quyết chiến.
                                     Tay súng thép của đoàn quân Chí Nguyện,
                                     Dậy đất trời rung chuyển cả Trường Sơn.

                                     Mỗi bước chân – Từng vết máu căm hờn,
                                     Tìm hướng giặc lao mình, quân xông tới.

                                     Nhưng Dân Tộc viết chưa tròn trang sử mới,
                                     Chiến trường xa anh vội bỏ đi rồi.
                                     Rừng Cao nguyên hoang nấm mộ đơn côi,
                                    Trong khám lạnh tôi bồi hồi luyến tiếc.

                                    Tên của anh, lần đầu tiên tôi biết,
                                    Cũng là lần anh vĩnh biệt trần-gian.
                                    Anh chết đi cho Tổ Quốc hiên ngang,
                                    Cho Dân Tộc triệu Hoàng Cơ-Minh khác.
                     
                                     Mãi đứng lên như con Hồng, cháu Lạc,
                                     Ðã bao lần đi phạt Bắc, bình Nam.
                                     Ðánh tới cùng, quét sạch lũ tàn tham,
                                    Giành Ðộc-lập trên vòm trời Ðông Á.

                                     Anh chết đi hẳn chưa tròn chí cả,
                                     Nhưng Giống Nòi đã mãi gọi tên anh.
                                     Người con yêu của Tổ Quốc liệt-oanh,
                                     Ðường Ðông Tiến tung hoành trên bốn bể.

                                     Tiếc thương anh đất trời như rớm lệ,
                                     Mãi tự-hào cho thế hệ mai sau.
                                     Tôi nghe lòng dậy thương đau,
                                     Như từng tha thiết với nhau thuở nào.
                                     Ðưng chung trên một chiến hào,
                                     Quốc thù đã có đồng-bào thay Anh.

                   Vũ-Bình-Nam
                       28.8.1993
    Trại giam A.20 Xuân Phước, Phú Khánh
    Tưởng-niệm năm thứ sáu. Ngày Liệt sĩ
    Hòang Cơ-Minh cùng các Chí Nguyện
    thuộc quyền đền nơ Nước tại Vùng Hạ Lào.

Tuesday, December 27, 2011

       
Sóng vỗ

Tống-Phước-Hiến

                                                        Tôi đứng đây, trên cồn hoang sóng vỗ,
Giữa mịt mù dồn dập tiếng giông đêm.
Vài vì sao, buông mình băng vội vã,
Chập chờn rơi, nghiêng cánh vỡ bên thềm.

Vây quanh tôi, khoảng không gian bát ngát,
Gió se lòng, ngùn ngụt lướt từng cơn.
Trời đẫm ướt, bóng đen ngăn lối bước,
Cỏ co mình, lệ đọng giọt cô đơn.

Những hàng cây lao xao rung thổn thức,
Vài bông hoa, ngậm nụ đợi sương rơi.
Từng tảng đá, trở mình xua hoang vắng,
Nối ngọn nguồn, giòng suối chảy miệt mài.

Cuối chân trời, ánh hừng đông le lói,
Ðêm cuốn dần, vũng tối nhạt nhòa đi.
Sóng bạc đầu, từ xa dâng cuồn cuộn,
Lớp lớp hàng hàng vội vã vỗ mê si.

Lòng xao xuyến giữa trời mây cô tịch,
Thương những Người nuôi chí cứu Quê-Hương.
Hận vong Quốc, từ xa xưa sử sách,
Nuốt hờn căm mài kiếm suốt canh trường.

Tôi ngậm ngùi, xót xa thân xà ích,
Cùng lạc đà ngơ ngác đến tương lai.
Tôi không muốn chở niềm đau u uất,
Ðem hận buồn về sa mạc đầu thai.

Tôi quyết biến lệ khô thành hoa trái,
Thành súng gươm, thành ý chí kiên cường.
Thành sức mạnh đưa đôi chân Phù-Ðổng,
Gom trăm giòng hăm hở vượt trùng dương.


                        Tống-Phước-Hiến

Thursday, December 22, 2011

HẸN  MỘT  NGÀY  MAI
                                  Phạm Đức Nhì

Ai chẳng muốn có một mái nhà êm ấm
khi đã bước qua tuổi ba mươi
một cô vợ
hiền lành
duyên dáng
một, hai đứa con
kháu khỉnh
tươi cười

bắt tay vào xây dựng tương lai
trong muôn ngàn việc chung
của quê hương dân tộc
ai chẳng có một đôi khoảnh khắc
nghĩ về
những riêng tư

tôi còn bà mẹ già
như ngọn đèn sắp tắt
mong đứa con trai từng giờ, từng phút
sớm về nhà
lấy vợ, đẻ con
mang trong lòng một hoài bão sắt son
“Bồi đắp vun trồng những mầm non nước Việt”
tôi cũng muốn mai đây
trong cánh rừng tươi đẹp
có một, đôi cây
mang vóc dáng của mình
ngạo nghễ giữa trời xanh

nhưng hôm nay
nghĩ đến chuyện gia đình
tôi như chạm phải vết thương nhức nhối
đất nước vẫn chìm trong đêm tối
lũ quỷ dã man
vẫn đày đọa muôn dân
đấu tranh
sẽ còn lắm gian nan
mà sự nghiệp
chỉ đôi bàn tay trắng

tôi biết mình chưa thể chu toàn bổn phận
làm chồng
làm cha
khi chí vẫn tang bồng
vẫn chưa chồn chân
lội suối băng rừng
vẫn đôi tay
muốn ghì chặt súng
trên đầu
tóc vẫn đang dựng đứng
mắt vẫn in rõ mặt quân thù

và trái tim
vẫn hằng đêm
nhói đau trong ngực
khi xa xa vọng về tiếng khóc
của những bà mẹ già,
những đứa trẻ thơ

nên dù có lời hứa đợi chờ
của cô láng giềng
tôi yêu tha thiết
dù mẹ tôi khao khát
mong cô con dâu,
mong đứa cháu gọi bà
tôi vẫn lắc đầu
và mỉm cười vu vơ
khi có người hỏi
“ Sao chưa lấy vợ? “

tôi mơ đến một khoảng trời rộng mở
có những đoàn quân
tiến về Sài Gòn
đòi lại quê hương đã mất
và hòa trong ào ào tiếng thét
“Tiến lên! Tiến lên!”
có bóng tôi lao vút như tên


Viết khi 30 tuổi

Phạm Đức Nhì

Wednesday, December 14, 2011




    HƠI THỞ VIỆT NAM
                                                                    Trần Trung Đạo


                                             

( Ðể tưởng niệm Trung Tá Cảnh Sát Long, người đã tự sát dưới chân tượng
                              đài Thủy Quân Lục Chiến Sài Gòn sáng 30.4.1975)

                                                                      &

 Trên đám cỏ này là nơi anh đã nằm 

Trên nắm đất này là nơi máu anh đã nhỏ 
Ðất vẫn một màu nâu 
Cỏ vẫn một màu xanh muôn thuở 
Mặt trời mỗi sớm vẫn rọi vào làm lóng lánh 
những giọt sương 
Như đôi mắt sáng của anh 
Lần cuối cùng ngửa mặt nhìn tổ quốc yêu thương 
Dưới chân tượng đài Thủy Quân Lục Chiến. 


Trung Tá Long ! 
Họ của anh là gì vẫn chưa ai biết 
Có phải là Ngô, Ðinh, Lý, Trần hay Lê, Nguyễn...Văn Long ? 
Không, tên của anh đã bắt đầu 
Từ ở núi, ở rừng, ở biển, ở sông 
Ở những câu chuyện thần tiên mẹ thường hay kể 
Từ thuở Cha Lạc Long dắt năm mươi con xuống bể 
Mẹ Âu Cơ dắt một nửa lên ngàn 
Từ thuở bầy chim Lạc chắp cánh bay về 
vùng nắng ấm phương Nam 
Xây tổ bên sông Hồng, sông Cửu 
Tên của anh đã bắt đầu khi con rồng Việt Nam 
phun lửa đốt rừng dựng nên bờ cõi 
Truyền vào lồng ngực anh hơi thở vào đời 
Hơi thở Việt Nam hòa trong anh suốt thuở làm người 
Sáng ba mươi anh trở về với mẹ 
Hồn anh bay giữa trời quê hương 
Một màu tang quạnh quẽ 
Tổ quốc nghiêng mình tiễn biệt một người con. 

Lòng anh đau khi nghe tiếng chiếc xe tăng 
Ðang nghiền nát Sài Gòn 
Hy vọng chết dưới mỗi lằn xích sắt 
Viên đạn Nga bắn vào tim nước Việt 
Lưỡi lê Tàu đâm thủng ngực dân Nam 
Ôi ! có bao giờ trong suốt bốn nghìn năm 
Mà đất trời quê hương ta buồn như hôm ấy 
Những mẹ, những cha, những cụ già, em bé 
Ngơ ngác nhìn nhau, sợ hải, kinh hoàng. 

Một chế độ vừa bắt đầu 
Bằng hận thù, khủng bố, lầm than 
Bằng tiếng xích T54 đay nghiến hồn dân tộc 
Xé nát lòng anh bao hờn căm và tủi nhục 
Anh đã chọn cho mình một cách chết quang vinh. 

Anh ngã xuống giữa Sài Gòn không để lại đủ họ tên 
Nhưng lịch sử nghìn năm sau vẫn nhớ. 
Trung Tá Long ! 
Mây vẫn bay trên đầu anh mỗi chiều, mỗi sớm 
Mặt trời mọc mỗi ngày làm lóng lánh giọt sương mai 
Như nước mắt mẹ già nhỏ xuống xác con trai 
Như ánh mắt chị nhìn chồng trong giờ vĩnh biệt 
Ðất vẫn một màu nâu đậm đà như tình người dân Việt 
Nơi anh nằm hoa cỏ vẫn xanh tươi. 

Máu anh rơi để làm đẹp cuộc đời 
Tô thắm đường các em sẽ đến 
Các em là thuyền nhờ có anh là bến 
Trong cuộc hải hành này anh là ngọn hải đăng soi 
Ðường tự do dù còn lắm chông gai 
Nhưng đã có anh mang niềm tin đi trước 
Cám ơn anh, người con yêu đất nước 
Ðã truyền lại cho muôn đời hơi thở Việt Nam. 

                                 Trần Trung Ðạo[


   

Sunday, December 11, 2011

            Tôi đã gặp ở đây

                      Phạm Đức Nhì

Tôi đến đây
trong một lần đi trốn
khi đang trong cuộc một trò chơi lớn
trò chơi đấu tranh

nhìn quanh
tôi thấy toàn thú dữ
mắt tròn xoe đổ lửa
uống máu ăn thịt lẫn nhau
trong khi bên ngoài những lớp rào
và những hào sâu
bầy quỷ sứ đứng canh
ngả nghiêng cười khoái trá

ở đây
một nắm rau dại
một con sâu,
con dế
lắm khi là giá một mạng người
một mẩu tàn thuốc rơi
có thể làm máu đổ

tử thần đang mừng rỡ
bước từng bước đến gần
những con người khốn khổ
họ chỉ biết bán rẻ nhân cách của mình
biến thành những con vật đê hèn
ngụp lặn trong vũng bùn tội lỗi

may mắn thay
tôi đã gặp ở đây
ân tình đong thật đầy
của những người bạn mới
(giữa rừng cỏ dại quanh bờ suối
lác đác một hai khóm trúc đào)
tôi quên sao được
hương vị ngọt ngào
của cành hoa các anh trao
giữa muôn nghìn cay đắng
đàng sau những vệt máu,
những giọt mồ hôi,
những tia nhìn thù hận
là màu xanh ước mơ
những nét nhạc,
những vần thơ
khung trời quê hương,
biển tình yêu
và cuồn cuộn dâng nhựa sống
tâm hồn tôi như bay cao giữa trời gió lộng
dù xác thân
vẫn trĩu nặng gông xiềng

tôi đã gặp những đứa em
còn chút dáng người giữa bầy dã thú
đói thắt ruột
và roi quất trên đầu, trên cổ
cũng chẳng nỡ ăn thịt đồng loại của mình
tôi ôm các em vào lòng
thủ thỉ bên tai những lời thân ái
để các em quen dần tiếng nói
của loài người
đã quên mất từ lâu

tôi đã bị đẩy xuống tận đáy vực sâu
dù đường còn rất xa
và rất nhiều khó nhọc
vẫn cố trèo lên miệng vực
dù bọn quỷ sứ
muốn biến tôi thành súc vật
trái tim tôi
vẫn ăm ắp tình người
vẫn quay quắt nhớ người yêu
nơi ấy một phương trời
và vẫn niềm tin
ở một ngày mai.

Viết cuối năm 1982
ở Bệnh Xá Phân Trại B

   Phạm Đức Nhì

Saturday, December 3, 2011

Ngôn Ngữ Thường Ngày


Tống phước Hiến

Ngôn ngữ là phương tiện thiết yếu trong cuộc sống, có nhiệm vụ miêu tả sự kiện, sự vật, và chuyên chở tư tưởng, tâm tình của con người. Ngôn ngữ còn được dùng để nhận diện, để chấp nhận hay phủ nhận, kính trọng hay miệt thị, tôn vinh hay triệt hạ giữa gian dối và sự thật, giữa phi nghĩa và chính nghĩa mà con người thấy cần phải chọn lựa, phải bày tỏ thái độ, hoặc phải có hành động hầu xứng đáng với nhân cách của mình.
Từ nhận thức ấy, chúng ta thử nhìn lại ngôn ngữ của một số (xin nhắc lại là chỉ một số chứ không phải là tất cả) cá nhân, hay tổ chức, cở sở doanh nghiệp đang sinh hoạt dưới nhiều dạng thức như báo chí, phát thanh, truyền hình…. Nhờ nghề nghiệp, họ thường được quần chúng đồng hóa họ với trí thức, đảm nhận vai trò hướng dẫn dư luận . Điều đáng phàn nàn là họ không quên phủ rắc màu mè quanh họ cái mà họ gọi là trung thực, vô tư, để ngụy biện cho những gì mà họ đã giúp cho cộng sản từ một bọn thảo khấu gian manh tội đồ trở thành bậc chính danh.
Ðáng lẽ điều cần nhớ nhất là họ đang mang thân phận ly hương, họ đã bị cộng sản tước đoạt các quyền căn bản của làm người, và họ đang nhờ sự bảo bọc nâng đỡ của cộng đồng tỵ nạn cộng sản, thì điều này họ lại…... quên !
Trên căn bản lịch sử, ai cũng phải nhìn nhận công lý sau đây :
1/- Trước kia, không thể gọi cộng sản là Chính Quyền Việt Nam, vì tiên khởi đảng cộng sản Việt Nam đã cướp đoạt chính quyền bằng bạo lực và gian trá, nên chân dung thật của chúng là “bạo quyền cộng sản Việt Nam”.
2/- Bây giờ, cũng không thể gọi cộng sản là Chính Quyền Việt Nam, vì chúng vừa xử-dụng bạo lực, vừa gian xảo trí trá. Quyền lực chính trị của chúng được hình thành, xây dựng và bảo vệ bằng thủ đoạn đê hèn, lưu manh và áp đặt, nên bản chất thật của chúng là "ngụy quyền cộng-sản Việt Nam".
Cộng sản Việt Nam không những miệt thị Dân Tộc Việt Nam, mà còn thách-thức cả nhân loại bằng Ðiều 4 của cái gọi là Hiến Pháp, một đoạn luật bất lương nhất của loài người, công khai xác định chính chúng mới là chủ nhân ông duy nhất của Ðất Nước Việt Nam. Ai đó muốn được chia phần, được an nhàn và sung túc thì trước hết phải là đảng viên cộng sản. Quyền lợi, quyền lực sẽ được chia phần theo tỷ lệ thuận mà phần vốn là mức độ tự hủy dịêt nhân cách của chính mình.
Ðối với Cộng sản Việt Nam, bất cứ kẻ nào dám nhìn lại Lương Tâm, dám hỏi về tính Tự Trọng, về Tình Tự Dân Tộc thì lập tức người ấy sẽ bị kỳ thị, sẽ trở thành kẻ phạm pháp, sẽ bị liệt vào thành-phần “Nguy Hại Cho An Ninh Quốc Gia” và đương nhiên sẽ bị hành hạ trả thù, tù đày, thậm chí có thể bị thủ tiêu. Những Dương Bạch Mai, Hữu Loan, Trần-Dần, Nguyễn-hữu-Ðang, Phan-Khôi, Trần Khánh Giư tức nhà văn Khái Hưng, Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, Phùng Quán, Lưu quang Vũ... ngày xưa ; và những nhân vật hôm nay, đang trong tầm ngắm của cộng sản, như: …Nguyễn-Minh Cần, Ðỗ Trung Hiếu, Phạm Quế Dương, Bùi Minh Quốc, Hà Sĩ Phu, Lê thị Công Nhân, Cù Huy Hà Vũ, Phạm thị Thanh Nghiêm, cụ Lê Quang Liêm lãnh tụ Phật Giáo Hòa Hảo, Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Mục Sư Nguyễn Hồng Quang, Đức Đệ Ngũ Tăng Thống GHPGVNTN Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ,.., đủ để chứng-minh.
Trong các cuộc gọi là bầu-cử, cộng-sản biến người dân thành những sinh vật “bất tri”, “bất trí”. Bầu cử chỉ là hành động nhằm mục-đích hợp-pháp-hóa vị-trí quyền-lực cho bọn cai thầu, đầu đảng Mafia cộng sản Việt Nam. Núp dưới chiếc áo của cái gọi là Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, cộng sản đã chấm định, áp đặt nhân sự.
Ai còn chút lương tâm mà dám làm chứng nhân nhìn nhận rằng: Cộng sản tổ-chức bầu cử trong sạch, tự do và công bằng như chúng thường rêu-rao !?
Câu trả lời dứt khoát và mạnh mẽ rằng là KHÔNG!,
Bởi lẻ rất dể hiểu. tính đặc thù của cộng sản là gian dối và tàn độc, gian manh,và kiêu căng, hống hách, và dâm loạn và nhất là thích đày ải, thích giết người. Nhà văn Nguyễn Tuân đã từng nhìn nhận rằng, nhờ biết sợ mà ông ta mới sống sót, nhạc sĩ Tô Hải cuối đời mới dám xác nhận mình là “Thằng Hèn” (tên một tác phẩm tự truyện của nhạc sĩ Tô Hải).
Dưới sự cai trị của tập đoàn thảo khấu cộng sản thì xã hội Việt Nam phải bị hèn hóa . Con người người sống trong xã hội nầy phải bị biến thành những kẻ nô lệ cho thèm muốn vật chất, cho dâm loàn nhục dục, cho sự khuất phục bạo lực và cường quyền. Cộng sản không cho phép những giá trị làm người được tồn tại chứ đừng nói đến phát triển., Vậy tập đoàn gian manh cộng sản làm sao được gọi là CHÍNH QUYỀN hay CHÍNH PHỦ?
Do đó, dứt khoát không bao giờ cộng sản được xem là đại diện cho Nhân dân Việt Nam để thủ giữ trách nhiệm một Chính Quyền đích thực là : TỪ DÂN, DO DÂN và VÌ DÂN. Giá trị bọn chúng chỉ là giá trị của bọn cướp sơn lâm thảo khấu, là bọn bạo quyền Mafia đỏ.
Cộng sản Việt Nam và Nhân dân Việt Nam mãi mãi là đối cực, là đối kháng. Cộng sản cần phải hèn hóa người dân, biến người dân thành dân nô lệ để thống trị. Người dân cần tiêu diệt cộng sản để được quyền làm người, được trở thành NGƯỜI
Vì vị trí địa lý đặc biệt của Việt Nam, vì một số tài phiệt thế giới coi túi tiền nặng hơn lòng nhân ái, vì một số người ngoại quốc nhìn cộng sản theo kiểu “nhìn bụng ta suy ra bụng người” nên chưa hiểu mặt thật cộng sản và nhất là vì một số kẻ khoát áo tỵ nạn nhưng tâm địa thuộc loại thương lái vô lại mà hiện nay cộng sản còn khả dĩ tạm thời đủ hơi sức kéo dài cơn hấp hối. Ngày nào cộng-sản Việt Nam còn thở thì ngày ấy Dân Tộc Việt Nam còn quằn-quại, lầm than !
Xin nhớ rằng chúng ta là những người may mắn vượt thoát khỏi bàn tay cộng sản đẫm máu, đang được sống tự do no đủ, đang là phát ngôn viên cho đồng bào trong nước để tố cáo cộng sản, để phủ nhận vai trò “Chính Quyền” mà cộng sản mạo nhận ra trước công luận, trước thế giới! Những người Việt Nam chân chính vô cùng buốt trí, nhức tim khi nghe, khi đọc do bất kỳ ai viết, hay trình bày về một sự việc, một vấn đề mà lại dùng chữ như là Thủ Tướng Việt Nam, Chính Phủ Việt Nam, Quốc Hội Việt Nam...mà thiếu đi túc từ ngụy quyền hay bạo quyền … cộng sản Việt Nam. Xin hãy tôn-trọng sự thật, xin hãy chia xẻ niềm thống hận của đồng bào và xin có chút tự trọng còn sót lại cuối cùng trong lương tâm của quý vị để ghi thêm cho đúng bản chất của chúng là... Cộng-sản Việt Nam (CSVN), ví dụ như : Thương-ước Mỹ và CSVN, Thủ-tướng CSVN, cái gọi là Quốc-hội CSVN...xin đừng xem hay đồng hóa bạo quyền cộng sản trở thành Chính Quyền chính danh để vô tình biến bọn thảo khấu cộng sản trở thành chính danh và tạo cơ hội cho bọn thảo khấu nầy có tính chính thống - dù chỉ là ngôn ngữ.
Chúng tôi là những độc giả, thính giả, khán giả của quý vị, chúng tôi mong muốn và thĩnh cầu quý vị: Xin hãy đứng chung với chúng tôi.! Xin quý vị đừng quên những đau-thương tang-tóc, mà cộng sản đã, đang, và vẫn còn phũ phàng giáng xuống quê hương chúng ta. Xin đừng vì danh lợi phù vân, xin đừng khiếp nhược bán rẻ lương-tâm, phủ-nhận sự thật, gán ghép hoán đổi từ tên bất lương, bất chính, vô luân thành bậc Chính-Nhân ! từ bọn thảo khấu trở thành chính thống. Xin hãy nhớ rằng chúng ta là những nạn nhân, những người Tỵ-Nạn Cộng-sản, đang nương tựa, nâng đỡ nhau cùng sống cho đúng nghĩa CON NGƯỜI, Quý vị là tiếng nói của chúng tôi, và chúng tôi là đôi tay của Quý vị.
Xin đừng quên một sự thật vô cùng bi hài đau nhục đang diễn ra tại Việt Nam, sự thật phi luân lý, phi nhân cách lại được xem như việc bình thường, sự thật đó là: Dưới sự thống trị của vộng sản, tại Việt Nam ngày nay, những người nói được thì ngòi bút đã bị quyền lợi và hèn nhát bẻ cong; những người thèm khát muốn nói thì ngòi bút đã bị cộng sản nhốt vào trại giam.
Xin mạo muội hỏi với giới trí thức hải ngoại, nơi cộng sản Việt Nam không thể đưa búa liềm đe dọa, trừ khi nạn nhân vì quyền lợi mà bất cố liêm sĩ để xin được tình nguyện trở thành nạn nhân cho bọn thảo khấu vộng sản rằng: Quý vị có cam lòng khuất phục ngụy quyền cộng sản không?
. Lịch sử đã chứng minh rằng KHÔNG. Ngay cả trí thức đang phải sống trong gọng kềm oan nghiệt của tập đoàn ác đảng Mafia cộng sản Việt Nam, cũng đã hét to rằng họ KHÔNG khuất phục cộng sản..
Bài viết nầy không có ý “chẻ sợi tóc làm tư”, chỉ ước mong quý vị có trách nhiệm lưu tình cho, xin đừng tạo bất cứ điều gì có lợi cho cộng sản.
Chúng tôi quyết liệt phản đối những kẻ nào manh tâm lợi dụng sự dễ-dãi của mọi ngưòi để thực-hiện thủ đoạn "lâu ngày chầy tháng”, gieo vào chúng tôi những từ ngữ nhằm hợp thức hóa chính-danh cho bọn Cộng sản.
Bọn cỏ đuôi chó đừng xử dụng ngạn ngữ: "cứt trâu để lâu hóa bùn !" nhằm hợp thức chính danh cho bọn thảo khấu cộng sản Việt Nam.
Lịch sử Việt Nam là lịch sử của một trong những dân tộc có sức đề kháng cao nhất, mạnh mẽ NHẤT, quyết liệt NHẤT và bền bỉ NHẤT vì nếu Dân Tộc Việt Nam không có những cái NHẤT đó thì Tàu cộng và Việt cộng đâu phải lo sợ run rẩy trước những cuộc biểu tình từ trong nước ra đến hải ngoại.
Vậy sá gì chút bợn cặn mà sao có kẻ cúi đầu rạp mình tuyên xưng chính danh cho bọn thảo khấu cộng sản?.
Xin đừng quên có những nấm mồ mà khách lữ hành phải nhăn mặt khi nhìn thấy tên ghi trên bia mộ, vì đó là tên của kẻ trước đây đã khước từ làm người để xin trở thành tên lâu la trong ác đảng thảo khấu cộng sản Việt Nam.
Xin hãy lưu tên trên bia mộ, mà người đọc nghiêng mình, tên của người dưới mộ bất tử trong giòng sinh mệnh Dân Tộc.


Tống phước Hiến